Top 20 # Triệu Chứng Bệnh Viêm Cơ Tim / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Kidzkream.com

Triệu Chứng Bệnh Viêm Cơ Tim / 2023

Các chuyên gia y học đều cho rằng với một người bị đột tử thì hầu như tất cả đều quy về nguyên nhân: nhồi máu cơ tim cấp.

Nhưng thực ra không phải chỉ có vậy, đột tử còn do rất nhiều nguyên nhân khác: rối loạn nhịp, cơn nhịp nhanh kịch phát tâm thất, viêm cơ tim cấp hay bệnh cơ tim giãn nở…

Cơ tim là một loại cơ đặc biệt, rất ít khi bị viêm và hiếm gặp trường hợp nào cơ tim bị ung thư. Nhưng nói như vậy không có nghĩa không bị viêm cơ tim. Phần lớn những trường hợp viêm cơ tim đều dẫn đến tử vong, đó là một nỗi lo rất lớn của những người thầy thuốc chuyên khoa tim mạch.

Chính vì vậy, trong thực tế có rất nhiều người chết do chủ quan vì nghĩ mình không bị bệnh gì cả, đặc biệt ở những người đàn ông trung niên, tương đối thành đạt, ít quan tâm đến sức khoẻ, hay nói đúng hơn là không dám nhận mình có sức khoẻ không tốt vì công việc làm ăn hay vì sĩ diện với mọi người.

Chúng tôi đã từng gặp nhiều trường hợp chết ngay trên sân tennis vì những người đàn ông này khi thấy mình hơi mệt đã không chịu đi khám bệnh, lại cho rằng tại không chơi thể thao nên mới mệt như vậy. Họ lao vào cuộc chơi với toàn lực để rồi rời sân với một thể xác không còn linh hồn.

Việc tìm ra bệnh cũng nhờ vào điện tim, khi người thầy thuốc cho bệnh nhân đo điện tim lúc khám bệnh. Chính vì vậy, đo điện tim thường quy là một việc làm rất hữu ích, không những giúp thầy thuốc phát hiện ra bệnh viêm cơ tim mà còn phát hiện ra những bệnh gây rối loạn nhịp tim khác như: cơn nhịp nhanh kịch phát, ngoại tâm thu, hội chứng Wolpakingson White…

Trong một số trường hợp điển hình, bệnh nhân có những triệu chứng giống như nhồi máu cơ tim cấp với các biểu hiện đau ngực bên trái dữ dội, mệt, khó thở. Xét nghiệm cho thấy men tim tăng cao, điện tâm đồ có những thay đổi đặc hiệu và gần giống nhồi máu cơ tim cấp.

Bệnh không tha bất kỳ ai

Có khá nhiều nguyên nhân gây viêm cơ tim cấp. Trong đó nguyên nhân thường gặp nhất là viêm cơ tim do virút, đặc biệt là virút Coxackie. Ngoài ra cơ tim có thể bị viêm do nhiễm khuẩn hay gặp ở các nước nhiệt đới gió mùa và có nền kinh tế chưa phát triển. Những bệnh nhân này phần lớn nghèo, suốt ngày tất bật nên không có thời gian để chú ý hay kiểm tra sức khoẻ định kỳ.

Tuy nhiên, viêm cơ tim cũng không tha bất kỳ ai. Với những người khá giả, có cuộc sống tất bật, viêm cơ tim có thể do một số nguyên nhân mà ít người nghĩ đến như viêm cơ tim do rối loạn chuyển hoá, do các bệnh về thiếu hụt miễn dịch hay do tế bào lympho. Những trường hợp này thường gây ra tình trạng đột tử, nhất là khi nạn nhân có luyện tập thể thao, thể dục hay làm những việc quá sức. Chính vì vậy, một lời khuyên không bao giờ thừa là nên khám sức khoẻ tổng quát, nhất là khám tim mạch trước khi quyết định lựa chọn môn thể thao nào và cần chọn môn thể thao phù hợp lứa tuổi.

Hãy thương lấy bản thân

Đau lòng nhất với các thầy thuốc tim mạch là hiện nay có khá nhiều người tuổi trên năm mươi mà vẫn chơi môn thể thao của tuổi mười tám, đôi mươi như cầu lông và tennis. Họ cho đó là những môn thể thao thời thượng, và hậu quả nhãn tiền là đã có khá nhiều người phải rời bỏ cuộc sống tươi đẹp để qua thế giới bên kia.

Để tránh những cái chết tình cờ, lời khuyên chân thành nhất của những chuyên gia tim mạch khi đề cập đến bệnh viêm cơ tim là bạn nên đi khám bệnh tim mạch thường kỳ khi đã ở tuổi 40, thường quy mỗi sáu tháng để được đo điện tim, siêu âm tim, xét nghiệm men tim và khám lâm sàng để phát hiện những trường hợp viêm cơ tim khi bệnh mới bắt đầu. Ngoài ra, khi thấy mệt mỏi, đau ngực nhẹ và cảm thấy khó thở dù chỉ là chút ít thì cũng phải hết sức cảnh giác, có thể thần chết đội lốt viêm cơ tim đang rình rập bạn.

“Hãy thương lấy bản thân mình trước khi đợi mọi người thương hay ông trời thương” – là phương châm tốt nhất để phòng tránh bệnh tim mạch.

Theo Phunutoday

Cùng Chuyên Mục

Bình Luận Facebook

Chẩn Đoán Bệnh Viêm Cơ Tim, Triệu Chứng, Nguyên Nhân Và Điều Trị Viêm Cơ Tim / 2023

Viêm cơ tim là tình trạng viêm các tế bào cơ tim, có thể cục bộ hoặc lan tỏa do tác nhân nhiễm trùng (virus, vi khuẩn, nấm…) hoặc tác nhân không nhiễm trùng.

Bệnh viêm cơ tim có nguy hiểm không?

Viêm cơ tim có thể không gây ảnh hưởng gì cho đến gây ảnh hưởng rất nặng nề, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viêm cơ tim có thể ảnh hưởng đến bộ máy phát nhịp, gây ra các rối loạn nhịp nguy hiểm, khó khống chế, viêm cơ tim có thể gây suy tim cấp thậm chí sốc tim, gây bệnh cơ tim giãn suy tim mạn tính sau này.

Viêm cơ tim do các tác nhân nhiễm trùng:

Virus: coxsackie B, adenovirus, virus viêm gan B, C, HSV, EBV… Viêm cơ tim do virus là nguyên nhân thường gặp nhất nhưng thường không thể chẩn đoán xác định được

Vi khuẩn: tụ cầu, liên cầu, bạch hầu,…

Nấm: candida, aspergillus,…

Kí sinh trùng: toxoplasma, Trypanosoma cruzi,…

Viêm cơ tim có thể xảy ra do các tác nhân không nhiễm trùng: thuốc nhóm anthracycline (Daunorubicin, Adriamycin), cocaine, CO, bệnh lupus, viêm mạch tế bào khổng lồ, Takayasu,..

Viêm cơ tim có chữa được không?

Điều trị viêm cơ tim có thể chỉ điều trị nội khoa nhưng cũng có thể phải hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể trong những trường hợp sốc tim. Trong những trường hợp này, tỉ lệ tử vong rất cao, chi phí điều trị lớn.

Điều trị nội khoa: trong giai đoạn cấp không có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu điều trị triệu chứng. Đa phần viêm cơ tim cấp có thể phục hồi, ít ảnh hưởng chức năng tim. Nhưng cũng có một tỉ lệ viêm cơ tim gây suy tim, bệnh cơ tim giãn. Điều trị ở giai đoạn này chủ yếu là điều trị suy tim, dùng thuốc theo khuyến cáo điều trị suy tim

Những trường hợp nặng: có thể cần dùng các thuốc vận mạch hỗ trợ, nhưng thường phải cần đến hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể (ECMO). Viêm cơ tim cấp có thể ảnh hưởng đến bộ máy dẫn truyền nhịp gây ra các rối loạn nhịp tim nguy hiểm như nhịp nhanh thất, hoặc block nhĩ thất. Những trường hợp này cần đặt máy tạo nhịp tạm thời kết hợp.

Hạn chế tiếp xúc với những người nhiễm virus, nhiễm cúm, hoặc có phương tiện bảo vệ khi tiếp xúc

Vệ sinh đặc biệt vệ sinh tay sạch sẽ

Tiêm một số vacxin phòng bệnh: vacxin cúm, viêm gan B,…

Các biện pháp chẩn đoán bệnh Viêm cơ tim

Sinh thiết nội mạc cơ tim: là phương tiện hữu ích để chẩn đoán, có thể xác định được bằng chứng viêm cơ tim rõ ràng trên mô bệnh học, tuy nhiên chưa được thực hiện tại Việt Nam

Điện tâm đồ: thường thấy dấu hiệu ST chênh cong lõm ở nhiều chuyển đạo biểu hiện tình trạng viêm cơ tim màng tim, cần tránh nhầm lẫn với biến đổi ST chênh lên trong nhồi máu cơ tim

Cộng hưởng từ tim: cũng là phương tiện có giá trị chẩn đoán cao, tuy nhiên ít thực hiện được trong giai đoạn cấp

Các xét nghiệm máu: ngoài tình các maker nhiễm trùng, đặc biệt cần chú ý đến Troponin T hoặc Troponin I là dấu chứng của hoại tử cơ tim. Dựa vào đó để chẩn đoán được có sự tổn thương cơ tim. Ngoài ra NT-proBNP, lactat máu cũng cần thiết để đánh giá mức độ suy tim, tưới máu cơ quan.

Chụp động mạch vành qua da: ở những bệnh nhân có đau ngực kèm các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành, có tăng men tim, cũng cần chụp động mạch vành để loại trừ nhồi máu cơ tim nếu tình trạng cho phép

Đối tượng nguy cơ bệnh Viêm cơ tim

Các đối tượng tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh

Triệu chứng bệnh Viêm cơ tim

Triệu chứng viêm cơ tim có thể từ nhẹ đến rất nặng. Các triệu chứng thường gặp của viêm cơ tim:

Dấu hiệu của nhiễm trùng: sốt, cảm cúm, đau mình mẩy…

Khó thở tùy mức độ suy tim

Các rối loạn nhịp tim: ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất…

Trường hợp nặng có dấu hiệu của sốc tim: huyết áp tụt, chân tay lạnh, tiểu ít, khó thở liên tục, có thể phù phổi cấp

Copyright © 2019 – Sitemap

Triệu Chứng Của Nhồi Máu Cơ Tim / 2023

Thường một số trường hợp nhồi máu cơ tim xảy ra bất ngờ trên một người từ trước đến nay vẫn bình thường. Còn một nửa xảy ra trên những người đã có nhồi máu cơ tim cũ hoặc có những cơn đau thắt ngực.

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim theo Tổ chức Y tế Thế giới phải có ít nhất hai trong ba tiêu chuẩn sau:

Cơn đau thắt ngực kiểu mạch vành.

Biến đổi trên điện tâm đồ.

Tăng một số men tim.

Trong bài viết này chúng tôi muốn cung cấp cho bạn đọc những triệu chứng mà bạn có thể phát hiện ra trước khi đến gặp bác sỹ. Còn dấu hiệu về sự biến đổi trên điện tâm đồ và tăng một số men tim chúng tôi không đề cập trong bài viết này.

Cơn đau ngực

Về tính chất của cơn đau, vị trí đau, hướng lan… những cơ đau ngực trong nhồi máu cơ tim thường khác với các cơn đau thắt ngực thông thường. người bệnh thường lo lắng hoảng hốt.

Cường độ cơn đau khác hẳn, cơn đau thường ngắn, ngậm nitroglycerid chỉ giảm không đáng kể. các cơn đau thường liên tiếp, đau như chẹn lấy ngực, như có người chẹn ngang cổ không thể nào thở được, đau vã mồ hôi có khi phải kêu to.

Có người thấy đau tại một điểm vùng ngực trái, có người thấy đau sau xương ức, không ít người nhận biết được chỉ đau ở vùng trước tim, nhưng lại có người mô tả đau toàn bộ vùng ngực cả trái lẫn phải. tuy nhiên gần như thống nhất là đau dữ dội đến nỗi cảm giác sắp chết đến nơi nếu không đuwocj vào viện.

Hướng lan tỏa cũng đặc biệt. trong trường hợp điển hình thường đau lan lên bả vai trái, cánh tay, cẳng tay và các ngón của bàn tay trái nhất là ngón út… đây là những nét rất riêng về hướng lan. Dựa vào đó người ta có thể phân biệt được các cơn đau ngực do viêm dây thần kinh liên sườn, đau thành ngực, đau do dày dính màng phổi cũ, đau do hội chứng vùi lấp… như vậy đau ngực không chỉ đơn thuần là do nhồi máu cơ tim.

Khác cơn đau thắt ngực thông thường, trong nhồi máu cơ tim cơn đau thường kéo dài quá 15 phút. Ngừng gắng sức và dùng thuốc nitroglycerid ít có tác dụng, nếu có chỉ trong 1 thời gian ngắn.

Tóm lại cơn đau thắt ngực trong nhồi máu cơ tim thường có các tính chất sau:

Cường độ đau lớn hơn.

Thời gian kéo dài hơn.

Ngừng gắng sức và thuốc giãn mạch không có tác dụng cắt cơn đau; thậm chí có những người dùng cả dolargan, morphin cũng không cắt được cơn đau.

Triệu chứng tiêu hóa

Đồng thời với đau thắt ngực thì buồn nôn và nôn là những triệu chứng thường gặp. Những trường hợp nhồi máu cơ tim thành dưới hay thấy đầy bụng, chướng hơi, bí trung tiện, đau thượng vị, có khi nấc liên tục. Có những người nhôig máu cơ tim đau vùng thượng vị dữ dội và có thể nhầm sang bệnh thủng dạ dày. Có những người lại mang đầy đủ triệu chứng của viêm ruột thừa tuy nhiên rất may mắn là những trường hợp này không nhiều.

Tụt huyết áp

Hầu hết những người bị nhồi máu cơ tim bao giờ huyết áp cũng thấp hơn. Tình trạng này thường kéo dài từ 1 đến 3 tháng, song cũng có trường hợp đến hơn 1 năm, sau đó huyết áp tăng dần lại. Và đã có vài trường hợp trở lại tăng huyết áp cho người tăng huyết áp trước khi bị nhồi máu cơ tim.

Tụt huyết áp và buồn nôn là những triệu chứng có thể gặp. Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa.

Sốt:

Thường gặp ở người nhồi máu cơ tim giờ thứ 12. Sốt cao 38 – 390C; số ít bệnh nhân có rét run giống sốt rét cơn. Có một điều chắc chắn rằng nếu sốt càng cao, thời gian kéo càng dài thì tiêng lượng bệnh càng nặng.

Triệu Chứng Nhồi Máu Cơ Tim Cấp / 2023

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp

Khi có 2 trong 3 các dấu hiệu sau:

Triệu chứng “đau ngực kiểu mạch vành”: Đau vùng giữa ngực hoặc ngực trái, đau tức nặng hoặc như có ai bóp nghẹt, đau lan lên vai trái, hàm dưới, lan ra mặt trong cánh tay trái đến ngón út.

Điện tâm đồ biến đổi điển hình.

Động học – các thay đổi men tim và các “chất đánh dấu tim” khác.

Triệu chứng lâm sàng nhồi máu cơ tim cấp

Cơn đau ngực kiểu mạch vành tức giống cơn đau ngực trong thể bệnh đau thắt ngực như đã biết, nhưng khác biệt ở 3 điểm:

Cường độ lớn hơn.

Không giảm đi dù nghỉ tĩnh hoặc ngậm dưới lưỡi Trinitrin.

Ngoài ra thường kèm theo hốt hoảng, “cảm giác chết tới nơi”, hay kèm thêm một số dấu hiệu thần kinh tự chủ như vã mồ hôi, tái nhợt da, lạnh đầu chi, buồn nôn, nôn, mệt, “khó thở”. Hồi hộp, trống ngực, kèm mạch nhanh huyết áp tăng của cường giao cảm hay gặp ở nhồi máu cơ tim mặt trước. Mạch chậm, huyết áp hạ… của cường phế vị hay gặp ở nhồi máu cơ tim mặt hoành (sau – dưới).

Nhưng 15 – 20% trường hợp nhồi máu cơ tim lại không có đau (nhồi máu cơ tim thầm lặng), chỉ có mỗi cảm giác “khó thở”, hoặc lú lẫn. Đó là trong số những bệnh nhân: Cao tuổi, tiểu đường, tăng huyết áp, hậu phẫu và những nhồi máu cơ tim khởi đầu ngay bằng biến chứng nặng như phù phổi cấp, sốc, rung thất …

Đau ngực là triệu chứng của nhồi máu cơ tim cấp

Điện tim ECG

Có động học điển hình của những biến đổi đoạn ST, sóng T và sóng Q.

Sóng “T vành” (phản ánh thiếu máu cục bộ ở vùng bao quanh tổn thương và hoại tử): T cân, nhọn và ngày càng âm thêm mãi để sẽ tuần tự (và trễ muộn hơn chu trình biến đổi ST) thun lên trở về bình thường hoặc “tối ưu” gần bằng mức bình thường cũ.

Nhưng lại có một số ít nhồi máu cơ tim có ST chênh lên này lại không có Q. Chỉ vì góc độ điện tim ở những bệnh nhân này không vẽ ra được Q, chứ không có nghĩa rằng không bị hoại tử, mà chứng minh được hoại tử bằng sinh hóa và các chất đánh dấu nêu ở dưới

Như vậy chính “động học” nêu trên có giá trị chẩn đoán quyết định. Vậy phải làm điện tâm đồ ngay từ đầu (và nên so sánh với điện tâm đồ cũ, nếu có), “theo dõi” điện tâm đồ nhiều lần mỗi 3 giờ, rồi mỗi ngày

Các chất đánh dấu tim:

Gồm các men tim, và các protein tim như Troponin T & I, myoglobin … Tất cả đều cần xét động học (điển hình cho nhồi máu cơ tim cấp phải tiến rồi thoái triển): tăng (dần tới đỉnh rồi giảm dần theo những thời điểm nhất định).

Troponin T hoặc Troponin I (bình thường < 0,2 nanogam), kể từ 1996 được xếp lên hàng đầu, vượt trội hơn cả CK-MB về 2 mặt:

Độ nhạy, độ chuyên biệt cao. Riêng về độ chuyên biệt cao hơn CK-MB thì Troponin có nhiều ưu thế:

Khi chẩn đoán phân biệt nhồi máu cơ tim không ST chênh lên với đau thắt ngực không ổn định mà đôi khi có tăng CK-MB nhưng không thể làm tăng Troponin.

Khi cần phát hiện nhồi máu cơ tim cấp ở bệnh nhân hậu phẫu mà CK-MB đã tăng do vết mổ vào cơ bắp.

Khi muốn khẳng định nhồi máu cơ tim cấp ở những người đang có những hủy hoại cơ nhiều (CK-MB cũng tăng) như viêm đa cơ, loạn dưỡng cơ, suy thận mạn, thể thao nặng (ví dụ chạy việt dã); hoặc ở những bệnh nhân xuất huyết não hoặc nhồi máu não đang có những hủy hoại mô não (CK-BB tăng và cả CK-MB cũng có tăng); hoặc ở những bệnh nhân đang bị nhồi máu ruột, ung thư phế quản – phổi và tuyến tiền liệt. [Chú ý CK-MB cũng như các men tim khác trong nhồi máu cơ tim vẫn rất riêng: có động học rõ rệt và đặc thù].

Tuy nhiên, Troponin không hơn CK-MB khi cần phân định nhồi máu cơ tim với chấn thương tim, phẫu tim, sốc điện khử RT liên tiếp, một số bệnh nhân có tổn thương tế bào cơ tim như viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim. Bởi lẽ cả hai đều là dấu ấn tế bào cơ tim bị hủy thì đều tăng trong những trường hợp nêu trên.

Troponin còn vượt trội ở chỗ tăng sớm (2 giờ sau khởi phát đau), đỉnh điểm 24 – 48 giờ, và mãi 5 – 14 ngày mới trở về bình thường …Với việc duy trì “sự đánh ấu” lâu nhất như thế, Troponin bao gồm ưu điểm (sớm) của Myoglobin, CK-MB và cả ưu điểm “muộn” của LDH, LH1.

Men creatinephosphokinase (CPK), gọi gọn là creatinekinase (CK) mà men đồng vị là CK-MB. Nó khởi tăng từ giờ thứ 3 – 12, đỉnh điểm ở giờ thứ 24, về bình thường giờ thứ 48 – 72 giờ (2 – 3 ngày).

Nếu bệnh nhân đến trễ đã quá thời gian đỉnh và thời gian hết của CK-MB, kể cả đã ngày thứ 10, thì quả nhiên nhất thiết phải dựa vào men tim LDH, LH1 và cả Troponin nữa.

Myoglobin quý ở chỗ không đợi 6 giờ mà < 2 giờ đã tăng phóng ngay rất nhanh từ hoại tử, và đỉnh điểm rất sớm < 6 giờ. Lại rất nhạy (tăng rất cao), nên sự âm tính của nó (không sợ bị âm tính giả) giúp loại trừ nhồi máu cơ tim cấp ở trường hợp đang nghi ngờ bị nhồi máu cơ tim. Nhưng độ chuyên biệt thấp (không đặc hiệu) cho nên đặc tính chưa khẳng định được là nhồi máu cơ tim.

Các chất đánh dấu tim nào tăng sớm hơn nữa và cho kết quả nhanh hơn nữa sẽ giúp quyết định dùng thuốc tiêu sợi huyết càng tốt (trước 2 – 4 giờ, không sau 6 – 12 giờ).

Men tim biến đổi là triệu chứng của nhồi máu cơ tim

Một số dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng khác

Đó là những dấu hiệu tuy không xếp vào 3 vấn đề của “tiêu chuẩn” chẩn đoán nêu trên, nhưng khi thăm khám thường nhận thấy, và cần tìm:

Huyết áp tâm thu hạ thấp dần, hạ khoảng 10% HA ban đầu (cũng có thể 30 mmHg so với trước); cùng với những dấu hiệu của huyết động không ổn định.

Sốt nhẹ sau 48 giờ, bạch cầu tăng nhẹ (không quá 12.000-15.000/ml) trong 3 – 4 ngày, khi bạch cầu hạ xuống về bình thường thì bắt đầu tăng lên nhẹ của tốc độ lắng hồng cầu (sẽ kéo dài sang tuần thứ 2), (3 điều này cần phân biệt với biến chứng bội nhiễm phổi, nhiễm trùng tiểu …).

Tăng nhẹ đường huyết (chớ vội quy ngay tiểu đường vào chẩn đoán).

Loạn nhịp ngoại tâm thu rải rác (thưa).

Mỏm tim đập khó sờ, loạn động hoặc thêm vùng đập của chỗ thành thất bị hoại tử chuyển động nghịch thường.

Nghe phổi tìm ran ứ đọng đáy phổi (có thể 1/3 ưới).

Kiểm tra không có tĩnh mạch cổ nổi (cảnh giác nhồi máu cơ tim thất phải).

Siêu âm Doppler mầu

Nay cần làm (tại giường) cho tất cả bệnh nhân nhồi máu cơ tim, không phải để có chẩn đoán dương tính mà để đánh giá chức năng thất, tầm soát biến chứng, hướng dẫn sử dụng thuốc ức chế men chuyển, chẹn bêta … Ví dụ:

Rối loạn chuyển động vùng ở mức nào, nhất là ở bệnh nhân đau ngực kiểu mạch vành mà cứ kháng trị, có tăng áp động mạch phổi chưa, phân suất tống máu (EF) của thất trái bắt đầu tụt chưa?.

Tầm soát biến chứng sa van hai lá, biến chứng thủng vách liên thất, biến chứng mỏng, giãn, phình thất, biến chứng huyết khối bám mặt trong thành thất, biến chứng tràn dịch màng ngoài tim …

Biên tập: Cardocorz – Dong riềng đỏ