Top 3 # Đông Y Trị Bệnh Nhược Cơ Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 3/2023 # Top Trend | Kidzkream.com

Đông Y Điều Trị Bệnh Nhược Cơ

2.1. Bệnh danh: Bệnh nhược cơ thuộc “chứng nuy” của Y học cổ truyền.

2.2. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh:

2.2.1. Nguyên nhân: Triệu chứng nuy theo “Hoàng đế Nội kinh” được chia làm 5 loại: Mạch nuy, can nuy, nhục nuy, phế nuy, cốt nuy.

Nguyên nhân của chứng nuy do 5 loại kể trên, nhưng bệnh sinh của nhược cơ gốc bệnh là chứng nhục nuy. Theo “Nuy luận thiên” Hoàng đế Nội kinh Tố vấn: Tỳ khí nhiệt thì vị khô mà khát, cơ nhục bất nhân thành chứng nhục nuy. Vì yêm lưu ở nơi ẩm thấp khiến cho thấp khí thấm thía ở trong cơ nhục thành tý mà bất nhân, do đó gây nên chứng nhục nuy. Cho nên kinh nói “nhục nuy gây nên do thấp”.

2.3. Biện chứng luận trị:

2.3.1. Thể trung khí hạ hãm:

*Chứng trạng: Mi mắt sụp xuống, tứ chi mềm yếu kém ấm, bước đi loạng choạng, muốn đổ ngã, sớm nhẹ tối nặng, sắc mặt không bóng, váng đầu mất sức, tiếng nói thấp bé, lưỡi nhạt, rêu trắng mỏng, mạch nhu hoãn không có lực.

* Pháp điều trị: Bổ khí thăng hãm

* Bài thuốc: Thăng hãm thang (“Y học viêm trung sâm tây lục”) gia giảm

Cơ không có lực là chứng bệnh nặng hay gặp, do đại khí hãm xuống, gân mạch mất nuôi dưỡng, do vậy lấy Thăng hãm thang bổ khí thăng hãm, trong bài thuốc trọng dụng Hoàng kỳ, Đẳng sâm đại bổ nguyên khí;Thăng ma, Sài hồ, Cát cánh…thăng đề dương khí; Quế chi ôn thông dương khí.

2.3.2. Thể đờm thấp ngăn lạc:

*Chứng trạng: Mi mắt sụp xuống, sớm nhẹ tối nặng, màng ngực chướng bí, ho đờm nhiều, váng đầu tim hồi hộp, buồn nôn, nôn mửa, lưỡi nhạt, rêu trắng, mạch hoạt.

* Pháp điều trị:Hóa đờm thông lạc

*Bài thuốc: Đạo đờm thang (“Tế sinh phương”) gia giảm

Đờm thấp ngăng kinh lach, tinh khí khó có thể lên cấp đầy đủ cho mi mắt, dẫn tới không có lực, thì cần hóa đờm thông lạc để chữa. Đạo đờm thang là Nhị trần thang chữa bệnh tương đối rộng, đặc biệt đối với phong đờm ngăn ở kinh lạc, vận dụng trường hợp trú lại ở khe cơ nhiều nhất, như điên cuồng, triệu chứng giản chứng bệnh Menier, viêm gốc thần kinh, đều có hiệu quả chữa trị nhất định. Đạo đờm thang lại phối hợp với các thuốc bổ khí như Bạch truật, Thăng ma để thăng dương và Sài hồ, hiệu quả càng tốt.

2.3.3. Thể ứ huyết ngăn lạc:

*Chứng trạng: Mi mắt sụp xuống, cơ bắp toàn thân mất sức, 2 đùi không có lực, màng ngực bí đầy, hô hấp cấp bách, lưỡi đỏ tối, mạch sáp.

*Pháp điều trị: Hóa ứ thông lạc.

*Bài thuốc: Khung long thang gia giảm

Loại này phần nhiều thấy cơ không có lực chứng bệnh nặng hơn u tuyến ngực dẫn tới phát ra, u sưng chèn nén khí huyết, lưu thông ngưng trệ, do vậy có thể thấy triệu chứng ứ huyết, dùng phương pháp hoạt huyết hóa ứ là chữa chính khí của nó. Bài thuốc trên ngoài Chỉ xác lý khí co thu cơ trơn, Đẳng sâm bổ khí ra, còn lại đều có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, hoặc trương nở máu, hoặc thu bé khối u. U tuyến ức cũng là bệnh rối loạn chức năng miễn dịch, thuốc hoạt huyết hóa ứ có hiệu quả ức chế chức năng miễn dịch phạm vi nhất định.

2.3.4. Phương pháp châm cứu:

– Chọn huyệt chủ: Ty trúc không thấu đến Ngư yếu, Toán trúc thấu đến Ngư yêu, Dương bạch thấu đến Ngư yêu.

– Huyệt phối: Bách hôi, Hợp cốc, Túc tam lý, Quan nguyên, Khí hải, Đại chùy, Tỳ du, Phế du

– Phương pháp: Huyệt chủ và huyệt phối lấy 2 đôi luân lưu hào châm, hoặc điện châm 20 – 30 phút, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần, 10 lần châm là 1 liệu trình.

Tư vấn khám chữa bệnh nhược cơ

Bài Thuốc Đông Y Chữa Nhược Cơ

Theo Đông y, bệnh nhược cơ thuộc chứng nuy, là tình trạng trương lực cơ bị giảm dẫn tới yếu cơ. Tùy theo từng bệnh nhân với mức độ của bệnh mà trương lực cơ giảm nhiều hay ít. Ở giai đoạn nặng, người mắc bệnh còn không thể nhấc được tay, không chải được tóc, không bước đi được. Bệnh tiến triển trong một ngày, từ nhẹ đến nặng dần sau khi vận động. Cũng theo Đông y, nguyên nhân chính của bệnh nhược cơ là do chức năng tỳ vị bị suy giảm, dẫn truyền thần kinh bị trở trệ.

Bài thuốc chữa nhược cơ

Bài thuốc số 1: Hoài sơn 16g, liên nhục 12g, bạch truật 16g, trần bì 10g, củ đinh lăng 16g, ba kích 12g, xương bồ 12g, thần khúc 10g, kê huyết đằng 16g, hà thủ ô 16g, đương quy 12g, sâm hành 16g, cam thảo 12g, hoàng kỳ 12g, ngũ gia bì 16g, đại táo 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Công dụng: Bổ tỳ, bồi đắp trung châu giúp cơ nhục hoạt động tốt.

Bài thuốc số 2: củ đinh lăng 16g, lá và cây ngấy hương 16g, cao lương khương 10g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, biển đậu 12g, hậu phác 10g, thủ ô chế 16g, cam thảo 12g, sinh khương 6g, bạch truật 16g, đại táo 10g, đương quy 12g, sâm bố chính 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Công dụng: Bổ tỳ, bổ sung các tinh chất giúp cải thiện quá trình dẫn truyền thần kinh-cơ, tăng sức lực cho cơ nhục. Dùng 15 – 20 ngày.

Bài thuốc số 3: xương bồ 12g, lạc tiên 16g, hà thủ ô 16g, đinh lăng 16g, bạch truật 12g, cam thảo 12g, kê huyết đằng 16g, hoài sơn 16g, đương quy 12g, phòng sâm 12g, ngũ gia bì 16g, mẫu lệ 16g, sâm hành 16g, hoàng kỳ 9g, quế 6g, đại táo 5 quả, sinh khương 4g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Công dụng: Thuốc dùng từ 15 – 20 ngày liền. Có tác dụng bổ tỳ dương, làm tỳ dương khỏe mạnh sung mãn, từ đó giúp hồi phục chức năng hoạt động của cơ nhục.

Bài thuốc số 4: Hà thủ ô, bạch truật, củ đinh lăng, hoài sơn, ngũ gia bì, đại táo, phòng sâm, ngũ vị, đương quy, cam thảo, xuyên khung, mỗi vị 20g. Cho các vị vào bình sứ hoặc bình thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm, sau 20 ngày là dùng được. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ.

Công dụng: Bổ tỳ kiện vị. Bài thuốc này có công dụng rất tốt với người tỳ hư, ăn uống kém, chân tay không có lực, cơ bắp yếu mềm.

Chay bắc bộ – Loài cây có hiệu quả hơn cả trong điều trị nhược cơ

Cây Chay thuộc họ Dâu Tằm (Moraceae), là loài cây thân gỗ, cao từ 10 – 15m. Lá cây Chay nhẵn bóng ở mặt trên, mặt dưới có lông, mọc so le nhau. Dân gian ta thường hay dùng lá, quả và vỏ rễ của cây Chay để làm thức ăn hoặc làm thuốc. Lá và rễ cây Chay có thể thu hái quanh năm, chỉ cần phơi hay sấy khô là có thể dùng được. Hơn nữa lá cây Chay càng hái lại càng mọc nhanh.

Chính vì trong dân gian cây Chay có nhiều tác dụng trong việc trị bệnh, nên các bác sĩ nước ta đã quyết định nghiên cứu chiết tách thành phần của lá cây Chay. Sau nhiều năm nghiên cứu và thử nghiệm, các nhà khoa học của Việt Nam cũng như quốc tế đã rất ngạc nhiên trước những tác dụng tuyệt vời của lá Chay bắc bộ trong việc ức chế miễn dịch. Họ phát hiện ra rằng cây Chay là vị dược liệu đầu tiên trên thế giới có tác dụng ức chế miễn dịch chọn lọc rất mạnh, hơn nữa thành phần trong lá Chay chỉ ức chế miễn dịch gây bệnh có hại mà không ảnh hưởng đến các miễn dịch có lợi.

Năm 1995, Đại tá, chúng tôi Phan Chúc Lâm đã thử nghiệm tại Bệnh viện Quân y 103 khả năng chữa nhược cơ của dịch tiết lá Chay. Kết quả thu được như sau:

“Trong tổng số 31 bệnh nhân được thử nghiệm, 90% bệnh nhân nhược cơ nặng đã giảm và hết các triệu chứng lâm sàng, đặc biệt nó còn làm giảm nhanh triệu chứng sụp mí mắt – triệu chứng điển hình và thường gặp nhất ở bệnh nhân nhược cơ.”

Song song với đó, tiến hành so sánh với nhóm bệnh nhân điều trị nhược cơ bằng thuốc tân dược như prednisolone, cyclophosphamide. Kết quả thu được: Thuốc tân dược làm thuyên giảm và hết các triệu chứng lâm sàng ở 88% số bệnh nhân thử nghiệm, còn nhóm cắt bỏ tuyến ức thì chỉ làm giảm triệu chứng lâm sàng ở 70%

Lohha Tráng Kiện sản phẩm dành riêng cho chứng Nhược Cơ

Phác Đồ Điều Trị Bệnh Nhược Cơ

Bệnh nhược cơ là rối loạn thần kinh cơ tự miễn do sự sản xuất tự kháng thể kháng thụ thể acetylcholine nicotinic. Khoảng 80 – 90% bệnh nhân nhược cơ có kháng thể kháng thụ thể acetylcholine nicotinic. Tần suất mắc bệnh 1/20.000 – 1/10.000 dân. Tỷ lệ nam: nữ khoảng 1:2. Các triệu chứng có thể xuất hiện ở bất cứ lứa tuổi nào, nhưng thường gặp nhất là từ 20 – 30 tuối 073 nữ, 50 – 60 tuổi ở nam. Các bệnh tự miễn khác kết hợp như: Viêm khớp dạng thấp, lupus và thiếu máu ác tính gặp ở 5% bệnh nhân; Bệnh tuyến giáp gặp ở 10% bệnh nhân, thường kết hợp với kháng thể kháng tuyến giáp. Khoảng 10 -15% bệnh nhân nhược cơ có u tuyến ức.

I. CHẨN ĐOÁN:

Tiêu chuẩn chẩn đoán:

Lâm sàng: Dấu hiệu chính của bệnh nhược cơ là yếu cơ dao động và dễ mệt mỏi. Các triệu chứng vận nhãn xãy ra ở 50% bệnh nhân (25% khởi đầu bằng song thị, 25% khởi đầu bằng sụp mi) và khi bệnh hơn 1 tháng thì 80% có bất thường về vận nhãn. Các triệu chứng hầu họng (nói khó, nuốt khó) xãy ra ở 10%, yếu chân (đi lại khó) 10% và yếu toàn thân 10%. Suy hô hấp gặp ở 1%. Bệnh nhân luôn than phiền các triệu chứng do yếu cơ khu trú như song thị, sụp mi, nói khó, nuốt khó, mất khả năng để nâng cánh tay quá đầu hoặc đi lại khó khăn. Bệnh nhân nhược cơ không than phiền yếu chung chung, mệt chung chung, buồn ngủ hoặc đau cơ. Trong trường hợp điển hình, yếu cơ dao động, xấu hơn khi gắng sức và cải thiện khi nghỉ ngơi. Các triệu chứng có khuynh hướng nặng vào cuối ngày. Một số yếu tố khác có thể thúc đẩy yếu cơ bao gồm căng thẳng tinh thần, nhiễm trùng, thuốc (succinylcholine, kháng sinh nhóm aminoglycoside, quinidine, độc tố botulinum)

Test thuốc Telsilon (Edrophonium) hoặc Prostigmine (+)

Cần thực hiện test ở nơi có đủ điều kiện cấp cứu hạ huyết áp, ngất, suy hô hấp. Nếu bệnh nhân có khó thở nặng phải hoãn test cho đến khi tình trạng hô hấp ổn định. Phải chuẩn bị 0.4 mg Atropine để tim tĩnh mạch trong trường hợp có tác dụng phụ của thuốc (nhịp tim chậm). Chọn 1 hoặc 2 nhóm cơ (cơ nâng mi, cơ vận nhãn ngang, cơ hầu họng) để quan sát. Chuẩn bị ống tiêm 1 ml (10 mg) Telsilon (Edrophonium), tiêm mạch 0,1 ml (1 mg) để test sự nhạy cảm của thuốc (theo dõi nhịp tim và tác dụng phụ của thuốc). Sau 1 phút, nếu không có tác dụng phụ xãy ra, tiêm thêm 3 mg và quan sát sự cải thiện của bệnh nhân. Một số bệnh nhân nhược cơ cải thiện tốt trong 30 -60 giây sau tiêm 4 mg, khi đó ngừng test. Nếu sau 1 phút, vẫn chưa cải thiện, tiêm thêm 3 mg và chờ thêm 1 phút nữa, nếu vẫn không cải thiện, tiêm 3 mg cuối cùng. Nếu bệnh nhân có triệu chứng muscatinic (như tiết mồ hôi nhiều, tiết nước bọt…) bất cứ lúc nào trong khi đang làm test chứng tỏ đã đủ liều thuốc để cải thiện triệu chứng và nên ngừng test. Thời gian cải thiện yếu cơ của Edrophonium chỉ kéo dài vài phút. Nếu yếu cơ cải thiện rõ ràng thì kết luận test (+). Nếu không cải thiện rõ ràng nên kết luận test (-). Có thể tiến hành mù đôi với giả dược (nước muối sinh lý) để so sánh. Cũng có thể lặp lại test vài lần. Độ nhạy 90%, độ đặc hiệu khó xác định vì thuốc cũng cải thiện yếu cơ trong các bệnh thần kinh cơ khác: Hội chứng Eaton – Lambert, botulism, hội chứng Guilliain – Barre, bệnh neuron vận động, các tổn thương thân não và xoang cảnh.

Neostigmine có thời gian tác dụng kéo dài hơn, cũng có thể dùng làm test, liều 0,04 mg/kg IM hoặc 0,02 mg/kg IV (chỉ duy nhất 1 lần).

Điện cơ: Test kích thích dây thần kinh lặp lại (+) khoảng 60%. Điện cơ sợi đơn độc có kết quả (+) trong 77 – 100% trường hợp tùy độ nặng của bệnh.

Kháng thể kháng thụ thể Acetylcholine (+) 50 – 75%.

Chẩn đoán nguyên nhân: Do bất thường miễn dịch mắc phải. Các cận lâm sàng giúp chẩn đoán nguyên nhân và hỗ trợ điều trị.

X quang ngực nghiêng

CT scan ngực có cản quang: Đánh giá tuyến ức (bình thường, tăng sinh, u)

Chức năng tuyến giáp; đường huyết, ion đồ, chức năng gan, thận,… và các bệnh tự miễn khác.

3. Chẩn đoán phân biệt:

Viêm đa cơ: Yếu cơ gốc chi liên tục, có thể đáp ứng với test Prostogmine.

Bệnh cơ do cường giáp: Liệt vận nhãn lồi mắt- xâm lấn mô mỡ vào ổ mắt.

Hội chứng nhược cơ: Nhược cơ do thuốc, nhược cơ do ngộ độc botulinum…

Bệnh cơ ty thể: Liệt vận nhãn tiến triển kèm sụp mi và yếu cơ.

Sarcodosis.

Nhược cơ + lymphoma.

Biến chứng thần kinh cơ của nhiễm HIV

Liệt chu kỳ hạ Kali máu.

4. Chẩn đoán phân loại:

Độ I: Nhược cơ thể mắt

1. Nhược cơ thể mắt

Độ IIA: Nhược cơ toàn thân nhẹ, đáp ứng tốt với thuốc kháng cholinesterase

2. Nhược cơ toàn thân nhẹ

Độ IIB: Nhược cơ toàn thân mức độ trung bình, ảnh hưởng nặng đến hệ cơ xương và hệ cơ thuộc hành não, có đáp ứng với thuốc kháng cholinesterase nhưng không đầy đủ

3. Nhược cơ toàn thân trung bình

Độ III: Nhược cơ nặng, suy hô hấp

4. Nhược cơ toàn thân nặng

Độ IV: Nhược cơ nặng giai đoạn cuối. Hình ảnh giống hệt như độ III, nhưng tiến triển từ I sang II mất hơn 2 năm

5. Cơn suy hô hấp.

* Độ 4 – 5: nên nhập viện

II. ĐIỀU TRỊ:

1. Nguyên tắc:

Phác đồ điều trị nhược cơ nên được thiết lập riêng cho từng bệnh nhân và phụ thuộc vào độ nặng của bệnh, tuổi, có hay không có phì đại tuyến ức và các bệnh lý nội khoa kèm theo.

Mục đích cải thiện sức cơ, ưu tiên đảm bảo hô hấp đầy đủ cho bệnh nhân.

2. Điều trị đặc hiệu:

Cơn nhược cơ: Điều trị tại khoa Hồi sức.

Nhược cơ thể mắt: Nên bắt đầu bằng Pyridosigmine bromide (Mestinon 60 mg) 30 -60 mg/ 4-6h, chỉnh liều tùy theo đáp ứng ≤ 120 mg/3h, nếu vẫn còn triệu chứng, điều trị đợt ngắn (2-3 tháng) Corticoides với liều tăng dần.

Thuốc ức chế men cholinesterase: Pyridosigmine bromide và Neostigmin bromide là những thuốc thường sử dụng.

Pyridosigmine bromide (Mestinon 60 mg) 30 -60 mg/ 4-6h, chỉnh liều tùy theo đáp ứng ≤ 120 mg/3h. Tác dụng phụ: Rối loạn tiêu hóa (khó chịu, tiêu phân lỏng, buồn nôn, nôn, đau quặn bụng, tiêu chảy), tăng tiết trong phế quản và trong miệng.

Neostigmin bromide (Prostigmine 15 mg) 7,5 – 15 mg/ 3-4h.

Thuốc ức chế miễn dịch:

Azathioprine cải thiện triệu chứng ở phần lớn bệnh nhân, nhưng chậm (4-8 tháng sau điều trị). Các bệnh nhân thất bại với Corticoides có thể đáp ứng với Azathioprine hoặc ngược lại. Tác dụng phụ: Mệt mỏi, giảm tế bào máu (thường nhẹ- chỉnh liều)

Mycophenolate mofetil: Sử dụng cho nhược cơ kháng trị hoặc do tác dụng phụ của thuốc ức chế miễn dịch khác. Liều 0,5g x 2 lần uống/ ngày, sau 2 tuần có thể tăng lên 1g x 2 lần/ ngày. Tác dụng phụ: giảm tế bào máu, loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa.

Cắt tuyến ức: Đề nghị cho hầu hết bệnh nhân nhược cơ. Đáp ứng tốt nhất ở người trẻ và ở giai đoạn sớm của bệnh (bệnh khởi phát sau 60 tuổi , bệnh nhân có u tuyến ức không đáp ứng tốt như bệnh nhân không u tuyến ức).

Thay huyết tương.

Truyền Globulin miễn dịch.

3. Điều trị hỗ trợ

Bổ sung Kali, Calci khi dùng Corticoides; thuốc chống trầm cảm; kháng sinh khi có tình trạng nhiễm trùng.

III. THEO DÕI:

Theo dõi công thức máu, ion đồ và định lượng kháng thể kháng thụ thể acetylcholine định kỳ để điều chỉnh liều thuốc ức chế miễn dịch. Tránh tăng, giảm liều thuốc kháng men hoặc ức chế miễn dịch đột ngột (thúc đẩy cơn nhược cơ).

Cơn nhược cơ nặng – nguyên nhân, triệu chứng, điều trị

Bệnh nhược cơ (Myasthenia Gravis Pseudo- Paralytica)

Bệnh Nhược Cơ Và Thuốc Điều Trị

Làm thế nào để biết mình mắc bệnh nhược cơ?

Bệnh cũng không có triệu chứng ban đầu rõ rệt, những dấu hiệu đầu tiên là ở mắt, biểu hiện bằng nhìn một thành hai (nhìn đôi) hoặc sụp mi mắt. Một số trường hợp khác bệnh biểu hiện bằng khó phát âm, khó nhai hoặc yếu cơ ở các chi. Sự yếu hoặc mệt mỏi cơ xuất hiện khi gắng sức và đỡ hơn khi nghỉ ngơi (đỡ về sáng sau khi ngủ dậy và nặng hơn vào buổi chiều) là đặc trưng của bệnh. Tuy nhiên trong trường hợp nặng, thậm chí khi nghỉ ngơi một thời gian dài nhưng bệnh cũng không đỡ. Bệnh có thể xuất hiện sau sang chấn tâm lý, bệnh nhiễm trùng, can thiệp ngoại khoa hoặc dùng các chất ức chế sự dẫn truyền thần kinh – cơ, có thai (trong 4 tháng đầu).

Để điều trị bệnh nhược cơ, cần phối hợp dùng thuốc điều trị triệu chứng và thuốc điều trị nguyên nhân gây ra bệnh. Tùy từng giai đoạn tiến triển của bệnh mà bệnh nhân sẽ dùng các phác đồ điều trị khác nhau. Các nhóm thuốc được dùng là:

– Thuốc kháng cholinergic: Là thuốc được sử dụng ở tất cả các thể hoặc các giai đoạn của bệnh. Thuốc có tác dụng ức chế sự phân huỷ của Acetylcholin bởi men cholinesterase và tăng độ tập trung của Acetyl cholin ở khớp nối thần kinh – cơ. Dù có tác dụng điều trị triệu chứng nhưng hiệu quả của thuốc giảm dần theo thời gian điều trị. Để thuốc có tác dụng tốt, cần phải uống thuốc trước bữa ăn từ 30 phút đến 1 giờ. Khi bệnh nhân có rối loạn nuốt hoặc bệnh ở giai đoạn cấp tính thì cần dùng thuốc tiêm. Mỗi bệnh nhân, tùy vào cân nặng, tình trạng và giai đoạn của bệnh sẽ có liều lượng khác nhau. Thuốc được chỉ định từ liều thấp rồi tăng dần tới liều thuốc mang lại hiệu quả. Nếu quá liều có thể dẫn đến rối loạn vận động tăng lên và suy hô hấp. Hiện tượng này còn được gọi là cơn cholinergic, cần được phát hiện và xử trí sớm để tránh những hậu quả đáng tiếc.

Những triệu chứng của quá liều thuốc kháng cholinergic là vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt và dịch phế quản, buồn nôn, chậm nhịp tim, tiêu chảy, đau bụng, co đồng tử, máy cơ, chuột rút.

Để giảm tác dụng không mong muốn của thuốc kháng cholinergic, người ta có thể sử dụng atropin nhưng gây nguy cơ che khuất triệu chứng của quá liều thuốc kháng cholinergic.

– Corticoid: Được chỉ định trong trường hợp tác dụng kém với thuốc kháng cholinergic và không đỡ sau cắt bỏ tuyến ức. Thuốc cũng được chỉ định liều dùng từ thấp, sau đó tăng dần tới liều tấn công, rồi lại giảm liều dần và duy trì ở liều thấp có hiệu quả trong nhiều tháng. Khi dùng thuốc này cần được bổ sung kali và canxi, thuốc bảo vệ dạ dày, hạn chế ăn muối… để hạn chế các tác dụng phụ của thuốc. Hiệu quả điều trị sẽ đạt được sau 2 – 4 tuần và hiệu quả tối ưu sau 6 tháng đến một năm. Việc dùng corticoid phải hết sức thận trọng và được giám sát chặt chẽ, bởi corticoid là một ví dụ điển hình về con dao 2 lưỡi.

Các tác dụng phụ phổ biến và nguy hiểm của corticoid gây ra cho bệnh nhân khi buộc phải dùng thuốc dài ngày như tình trạng loãng xương, dễ bị gãy xương, lún xẹp cột sống; tích nước và muối gây phù và tăng huyết áp, nhất là huyết áp tâm thu; rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường; viêm loét dạ dày, một số trường hợp bị chảy máu dạ dày; dễ bị nhiễm khuẩn do thuốc corticoid ức chế hệ miễn dịch của cơ thể. Đó là lý do tại sao khi dùng corticoid lại phải bổ sung các loại thuốc khác như đã khuyên ở trên. Các tác dụng nguy hiểm khác có thể gặp như suy thượng thận khi điều trị corticoid liều cao và kéo dài (trên 2 tuần) sẽ khiến tuyến thượng thận ngừng hoạt động, thậm chí bị teo và bệnh nhân sẽ bị rơi vào tình trạng suy thượng thận. Suy thượng thận là một trong những biến chứng thường gặp nhưng các triệu chứng không đặc hiệu và diễn biến âm thầm nên hay bị bỏ qua; da mỏng, dễ bị xuất huyết dưới da khi tiêm truyền hoặc va đập; các vết loét, vết mổ khó liền do corticoid ức chế quá trình liền vết mổ. Ngoài ra còn có thể gặp các tác dụng phụ khác như mất ngủ, rối loạn tâm thần, đục thuỷ tinh thể… Trẻ em dùng corticoid dài ngày dễ bị thấp lùn do corticoid ức chế tiết GH, làm giảm sự phát triển chiều cao.

Do vậy, để hạn chế những tác dụng phụ, bệnh nhân khi phải dùng corticoid để điều trị, cần chú ý:

– Tuyệt đối tuân theo chỉ định của bác sĩ về liều lượng và thời gian sử dụng thuốc.

– Định kỳ kiểm tra huyết áp và đường huyết.

– Khám mắt sau điều trị 3 tháng.

– Thông báo ngay cho bác sĩ biết nếu có rối loạn về tâm thần.

– Tránh nằm hoặc ngồi tại chỗ quá lâu vì nó làm yếu cơ nhiều hơn và làm loãng xương nặng thêm. Với những người bị gãy xương thì sau khi được điều trị nên tập vận động trở lại sớm.

– Nếu bị suy giảm ham muốn tình dục cũng cần phải thông báo cho thầy thuốc để được điều trị.

– Không bao giờ được tự ngừng thuốc corticoid đột ngột, nhất là những trường hợp đang dùng liều cao hoặc đã dùng thuốc trong thời gian dài vì nguy cơ rất cao bị suy thượng thận cấp nặng, dễ bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Bệnh nhân sẽ được xem xét các chỉ định khác như cắt bỏ tuyến ức nếu bệnh nhân mắc nhược cơ thể toàn thân ở người trên 40 tuổi và không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Trong trường hợp u tuyến ức có xâm lấn, cần tiến hành điều trị tia xạ hoặc hoá chất chống ung thư phối hợp.

Các trường hợp bệnh nhân tác dụng kém với thuốc kháng cholinergic và không đỡ sau cắt bỏ tuyến ức thì sẽ được chỉ định dùng thuốc làm giảm phản ứng miễn dịch; thay huyết tương; truyền globulin… Các biện pháp này được chỉ định đối với trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn, không đáp ứng với biện pháp dùng thuốc và chỉ được thực hiện ở bệnh viện chuyên khoa.

– Kinh nghiệm điều trị run tay từ người trong cuộc

Các bài viết khác