Top 20 # Bệnh Trầm Cảm Là Thiếu Chất Gì / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Kidzkream.com

Bệnh Trầm Cảm Ở Thiếu Niên / 2023

Những áp lực từ bạn bè, học tập và sự thay đổi của cơ thể mang lại nhiều cảm xúc thăng trầm cho trẻ. Tuy nhiên ở một số trẻ vị thành niên, những nốt trầm lại chiếm ưu thế – đó chính là triệu chứng của bệnh trầm cảm ở thiếu niên.

Trầm cảm ở tuổi trẻ rất phổ biến và nên được điều trị sớm. Trầm cảm tuổi trẻ sẽ có những biểu hiện như dễ cáu gắt, buồn bã, cách ly xa lành mọi người, thức đêm dẫn đến mất ngủ, ăn nhiều hơn hoặc nhịn ăn. Nếu kéo dài sẽ làm ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe về sau. Nếu bạn không thể tìm được hướng giải quyết cho mình hãy liên hệ đến bác sĩ tâm lý tư vấn qua điện thoại 1900 1246

1. Bệnh trầm cảm ở tuổi thiếu niên là gì

2. Triệu chứng của bệnh trầm cảm ở tuổi thiếu niên

3. Nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm ở tuổi thiếu niên

4. Biến chứng của bệnh trầm cảm ở tuổi thiếu niên

5. Điều trị bệnh trầm cảm ở tuổi thiếu niên

6. Phòng chống bệnh trầm cảm ở tuổi thiếu niên

7. Bác sĩ điều trị

8. Chia sẻ của bệnh nhân

===

Bác sĩ tham vấn thông tin và hỗ trợ khám bệnh:

✍ Sài Gòn: Các bác sĩ Bv Tâm Thần HCM, Đại Học Y Dược, Đại học Phạm Ngọc Thạch

✍ Hà Nội: Viện Tâm Thần Bạch Mai- Đại Học Quốc Gia (khoa Y) – Đại Học Y Hà Nội.

✍ Đà Nẵng: Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng.

⌨ CHAT FACEBOOK

===

Trầm cảm tuổi thiếu niên hay còn gọi là trầm cảm tuổi teen là một rối loạn tâm thần trầm trọng gây ra bởi cảm giác buồn chán kéo dài và mất hứng thú trong các hoạt động. Bệnh không những ảnh hưởng tới suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của trẻ vị thành niên mà còn có thể gây ra các vấn đề về cảm xúc và sức khỏe của trẻ. Mặc dù trầm cảm có thể xảy ra bất kì lúc nào trong đời nhưng các triệu chứng của bệnh sẽ khác nhau ở người lớn và trẻ vị thành niên.

Trầm cảm tuổi teen không phải là sự yếu đuối hay thứ gì đó có thể vượt qua được bằng sức mạnh ý chí – nó có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng và cần phải điều trị lâu dài. Các triệu chứng bệnh trầm cảm ở hầu hết trẻ vị thành niên dễ điều trị với thuốc và tư vấn tâm lý. Nếu cần sự tư vấn thêm từ phía bác sĩ xin đừng ngại hãy liên hệ với bác sĩ theo số hotline 0886006167

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246 HỖ TRỢ TRÊN FACEBOOK: CLICK LINK

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Các triệu chứng của bệnh trầm cảm tuổi teen bao gồm thay đổi từ các hành vi và thái độ trước đó của trẻ, từ đó có thể gây ra những căng thẳng và các rắc rối ở trường học hay ở nhà, trong các hoạt động xã hội,….

Các triệu chứng bệnh trầm cảm có thể thay đổi theo mức độ trầm trọng của bệnh và các thay đổi trong cảm xúc và hành vi của trẻ được liệt kê trong danh sách dưới đây:

Các thay đổi về cảm xúc: hãy cẩn thận với các thay đổi cảm xúc dưới đây:

Cảm thấy buồn rầu, có thể rơi nước mắt dù không có nguyên nhân cụ thể

Cảm thấy tuyệt vọng hoặc có cảm giác trống rỗng

Cáu gắt hoặc khó chịu

Thất vọng hoặc giận dữ cho dù chỉ là vấn đề nhỏ nhặt

Không quan tâm hoặc mất hứng thú đối với các hoạt động thường ngày

Không quan tâm hoặc xung đột với gia đình và bạn bè

Tự ti

Có cảm giác tội lỗi hoặc cảm thấy bản thân vô dụng

Ám ảnh về các thất bại trong quá khứ hoặc phóng đại việc tự đổ lỗi hoặc tự phê bình

Cực kì nhạy cảm về việc bị từ chối hoặc thất bại và cần sự bảo đảm quá mức

Có vấn đề về việc suy nghĩ, tập trung, đưa ra quyết định và ghi nhớ mọi thứ

Có cảm giác cuộc sống và tương lai ảm đạm và tăm tối

Luôn có ý nghĩ về cái chết và tự sát

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246 HỖ TRỢ TRÊN FACEBOOK: CLICK LINK

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Thay đổi hành vi: xem xét những thay đổi trong hành vi như:

Mệt mỏi và mất năng lượng

Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều

Thay đổi khẩu vị – ăn ít lại và giảm cân hoặc ăn rất nhiều và tăng cân

Sử dụng rượu bia và chất kích thích

Kích động hoặc bồn chồn – ví dụ đi qua đi lại, xoắn hai tay vào nhau hoặc không có khả năng ngồi yên tại chỗ

Suy nghĩ, nói năng hoặc các cử động của cơ thể chậm chạp

Thường xuyên than phiền về những cơn đau nhức cơ thể không giải thích được hoặc các cơn đau đầu, làm trẻ thường phải xuống phòng y tế của trường.

Cô lập với xã hội

Học kém hoặc thường xuyên nghỉ học

Không quan tâm tới vẻ bề ngoài

Hay nổi nóng, có các hành vi gây rối hoặc nguy hiểm hoặc các hành vi khác tương tự

Tự làm tổn thương bản thân như lấy dao cắt vào tay, chân, châm lửa đốt hoặc đục thêm lỗ đeo khuyên hoặc xăm.

Lập kế hoạch tự tử hoặc cố gắng tự tử

Điều gì là bình thường và điều gì là bất thường?

Rất khó để nói được sự khác biệt giữa những thay đổi thất thường của lứa tuổi vị thành niên và trầm cảm tuổi teen. Hãy nói chuyện với con bạn. Hãy cố gắng xác định xem con có khả năng đối mặt với những cảm xúc đầy thử thách hay dường như cuộc sống của con đang quá nặng nề.

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246 HỖ TRỢ TRÊN FACEBOOK: CLICK LINK

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Nếu các triệu chứng trầm cảm đang bắt đầu hoặc tiếp tục quấy rầy cuộc sống của con bạn, hãy gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý được huấn luyện làm việc với trẻ vị thành niên.

Các triệu chứng trầm cảm không tự mất đi – và chúng có thể trở nên tệ hơn hoặc dẫn tới các vấn đề khác nếu không được chữa trị. Trẻ vị thành niên bị trầm cảm có nguy cơ tự tử mặc dù các triệu chứng không quá nghiêm trọng.

Nếu như bạn là một trẻ vị thành niên và bạn nghĩ mình đang bị trầm cảm hoặc bạn có người bạn có thể đang bị trầm cảm, hãy gặp bác sĩ càng sớm càng. Bên cạnh đó, bạn cũng nên chia sẻ những mối quan ngại của bản thân với cha mẹ, bạn thân, người dẫn dắt tinh thần, giáo viên hoặc ai đó mà bạn tin tưởng. Bạn cũng có thể liên hệ để được bác sĩ tư vấn thêm qua số 0886006167

===

Bác sĩ tham vấn thông tin và hỗ trợ khám bệnh:

✍ Sài Gòn: Các bác sĩ Bv Tâm Thần HCM, Đại Học Y Dược, Đại học Phạm Ngọc Thạch

✍ Hà Nội: Viện Tâm Thần Bạch Mai- Đại Học Quốc Gia (khoa Y) – Đại Học Y Hà Nội.

✍ Đà Nẵng: Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng.

⌨ CHAT FACEBOOK

===

Tự sát thường hay đi kèm với chứng trầm cảm tuổi teen. Vì vậy nếu bạn nghĩ bạn sẽ tự làm đau chính mình hoặc có ý định tự tử, hãy gọi số điện thoại khẩn cấp ngay lập tức: 1900 1246.

Hãy cân nhắc những lựa chọn dưới đây nếu bạn có suy nghĩ muốn tự tử:

Gọi điện cho chuyên gia tâm lý

Tìm kiếm sự giúp đỡ từ bác sĩ gia đình

Liên lạc với một người bạn thân hoặc người thân trong gia đình

Nếu người thân hoặc bạn bè đang gặp nguy hiểm vì cố tự sát hoặc có ý định tự sát:

Bảo đảm rằng có ai đó ở cùng với họ

Gọi số điện thoại khẩn cấp ngay lập tức

Đưa người đó tới bệnh viện gần nhất một cách an toàn

Đừng bao giờ bỏ qua các ý kiến hoặc các mối quan ngại về chuyện tự tử. Hãy luôn tìm kiếm sự giúp đỡ.

===

Bác sĩ tham vấn thông tin và hỗ trợ khám bệnh:

✍ Sài Gòn: Các bác sĩ Bv Tâm Thần HCM, Đại Học Y Dược, Đại học Phạm Ngọc Thạch

✍ Hà Nội: Viện Tâm Thần Bạch Mai- Đại Học Quốc Gia (khoa Y) – Đại Học Y Hà Nội.

✍ Đà Nẵng: Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng.

⌨ CHAT FACEBOOK

===

Bệnh trầm cảm tuổi thiếu niên rất nguy hại cho các thanh thiếu niên do nó có thể gây ra những tác động xấu về tâm lý, hành vi, sức khỏe của thanh thiếu niên. Từ đó khiến cho việc học tập, sinh hoạt của các bạn trẻ bị trì trệ, ảnh hưởng đến cả tương lai sau này của họ.

Trong trường hợp xấu nhất, người bệnh có thể cố tự sát hoặc sát hại người khác.

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246 HỖ TRỢ TRÊN FACEBOOK: CLICK LINK

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Sinh học: các chất dẫn truyền thần kinh dẫn truyền các tín hiệu tới các phần khác của não và cả cơ thể. Khi những chất hóa học này bị hư hoặc biến đổi, chức năng của thụ thể thần kinh và hệ thần kinh cũng bị thay đổi, dẫn tới trầm cảm.

Nội tiết tố: các thay đổi trong việc cân bằng các nội tiết tố của cơ thể có thể gây trầm cảm

Các đặc điểm di truyền: trầm cảm thường gặp hơn ở những người có người thân mắc chứng trầm cảm

Các trải nghiệm đau thương từ thuở nhỏ: các sự kiện đau thương trong thời thơ ấu như bị lạm dụng thể xác hoặc tinh thần, hoặc mất cha mẹ có thể làm thay đổi trong não bộ, làm cho người đó dễ bị trầm cảm hơn.

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246 HỖ TRỢ TRÊN FACEBOOK: CLICK LINK

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Có rất nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ hoặc gây ra trầm cảm tuổi teen như:

Có vấn đề làm ảnh hưởng tiêu cực tới lòng tự trọng như béo phì, rắc rối với bạn bè, bị bắt nạt kéo dài hoặc rắc rối với chuyện bài vở.

Từng là nạn nhân hoặc từng chứng kiến các hành vi bạo lực như lạm dụng thể xác hoặc xâm hại tình dục.

Có các rối loạn tâm thần khác như rối loạn lưỡng cực, rối loạn lo âu, rối loạn nhân cách, chứng chán ăn tâm thần hoặc rối loạn ăn uống

Mắc chứng tăng động giảm tập trung (ADHD)

Đang có bệnh mãn tính như ung thư, bệnh tiểu đường hoặc hen suyễn

Bị khuyết tật

Có tính tự ti hoặc quá phụ thuộc ỷ lại, hay tự phê bình hoặc bi quan

Lạm dụng rượu bia, thuốc lá và các chất kích thích

Đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính hoặc người chuyển giới đang sống trong cộng đồng không ủng hộ

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246 HỖ TRỢ TRÊN FACEBOOK: CLICK LINK

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Tiền sử gia đình và các vấn đề trong gia đình hoặc với người khác cũng làm tăng tỉ lệ trầm cảm ở trẻ vị thành niên:

Có cha mẹ, ông bà hoặc người cùng huyết thống khác mắc chứng trầm cảm, rối loạn lưỡng cực hoặc nghiện rượu

Có người thân tự tử

Có gia đình không hoàn hảo và hay xung đột

Từng trải qua các sự kiện căng thẳng trong cuộc sống dạo gần đây như cha mẹ ly hôn, người thân qua đời hoặc có cha mẹ tham gia quân đội

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Trầm cảm nếu không được chữa trị sẽ dẫn tới các rối loạn về cảm xúc, hành vi và sức khỏe, làm ảnh hưởng tới tất cả các mặt trong cuộc sống của trẻ. Các biến chứng đó bao gồm:

Lạm dụng rượu và thuốc kích thích

Vấn đề về học tập

Xung đột gia đình và các mối quan hệ

Vi phạm pháp luật

Tự tử

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Trước khi gặp bác sĩ bạn nên chuẩn bị đầy đủ những thứ bạn cần hỏi cũng như cần trả lời. Dưới đây là một vài thông tin giúp bạn và trẻ chuẩn bị trước cuộc hẹn và những thông tin được nhận từ bác sĩ.

Để đạt hiệu quả tốt hơn, hãy nói với con cùng chuẩn bị với bạn. Lập một danh sách bao gồm:

Những thông tin cá nhân chính yếu như bất kì căng thẳng nào trong cuộc sống hoặc các thay đổi gần đây trong cuộc sống của trẻ

Tất cả loại thuốc, vitamin, các loại thảo dược hay thuốc bổ mà trẻ đang uống

Các câu hỏi mà bạn và trẻ muốn hỏi bác sĩ.

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Nếu bác sĩ nghi ngờ trẻ bị trầm cảm, họ có thể sẽ làm những xét nghiệm sau:

Chuyên gia tâm lý có thể sử dụng hệ thống chẩn đoán trong Cẩm nang hướng dẫn Chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM – 5), được xuất bản bởi Hiệp hội Tâm thần Mỹ, để chẩn đoán chứng trầm cảm.

Xét nghiệm:bác sĩ có thể cho làm xét nghiệm máu hoặc kiểm tra chức năng tuyến giáp để xem nó có hoạt động bình thường không.

Đánh giá tâm thần: việc này bao gồm trao đổi với trẻ về những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi, có thể làm thêm bảng câu hỏi. Những điều này sẽ giúp xác định chẩn đoán và kiểm tra các biến chứng kèm theo.

Trầm cảm gây ra các triệu chứng khác nhau ở từng người. Để xác định rõ loại trầm cảm mà con bạn mắc phải, bác sĩ có thể sử dụng một hoặc nhiều phương pháp chẩn đoán chuyên sâu, nghĩa là trầm cảm với các đặc điểm cụ thể, đó là:

Các kiểu trầm cảm

Kiểu lo lắng: trầm cảm có sự bồn chồn bất thường hoặc lo lắng về những sự kiện có thể xảy ra hoặc mất kiểm soát

Kiểu u sầu: trầm cảm nặng, không đáp ứng với những thứ từng đem lại niềm vui và đi kèm với giật mình tỉnh dậy vào sáng sớm, tâm trạng nặng nề vào buổi sáng, thay đổi khẩu vị và cảm giác tội lỗi, kích động hoặc chậm chạp

Kiểu không điển hình: trầm cảm nhưng có thể vui lên tạm thời nhờ các sự kiện vui vẻ, tăng khẩu vị, buồn ngủ, nhạy cảm với sự từ chối và có cảm giác nặng tay chân.

Một vài rối loạn tâm thần khác có triệu chứng là trầm cảm. Một chẩn đoán chính xác là chìa khóa để điều trị đúng, do đó bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý cần đánh giá kĩ để xác định được liệu các triệu chứng trầm cảm có phải gây ra do các rối loạn tâm thần dưới đây:

Rối loạn lưỡng cực I và II: những rối loạn cảm xúc này bao gồm việc thay đổi cảm xúc từ rất vui sang rất buồn. Đôi khi việc phân biệt được giữa trầm cảm và rối loạn lưỡng cực là khá khó.

Rối loạn cyclothymic: đây là một loại rối loạn cảm xúc gần giống với rối loạn lưỡng cực nhưng nhẹ hơn rối loạn lưỡng cực.

Rối loạn tâm trạng hỗn loạn: ở trẻ em, rối loạn này là bệnh mạn tính, trẻ cáu gắt dữ dội, thường xuyên nổi nóng và cực kì bốc đồng. Chứng rối loạn này thường phát triển thành trầm cảm hoặc rối loạn lo âu ở tuổi vị thành niên hoặc tuổi trưởng thành.

Rối loạn trầm cảm kéo dài: đôi khi còn được gọi là chứng trầm cảm nhẹ kéo dài. Đây là dạng trầm cảm không trầm trọng nhưng mạn tính. Dù nó thường không làm trẻ kiệt sức nhưng nó có thể làm trẻ không thể hoạt động bình thường trong các hoạt động hằng ngày của cuộc sống.

Rối loạn cảm xúc trước ngày hành kinh: bao gồm các triệu chứng của trầm cảm gây ra bởi sự thay đổi các nội tiết tố một tuần trước đó, cải thiện trong vài ngày sau khi bắt đầu hành kinh và giảm bớt hoặc biến mất sau khi hành kinh.

Các rối loạn khác gây trầm cảm: do dùng thuốc kích thích, một vài loại thuốc nhất định hoặc do các bệnh khác gây ra.

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Chọn lựa phương pháp điều trị bệnh trầm cảm phụ thuộc kiểu trầm cảm và mức độ trầm trọng của các triệu chứng của trẻ. Sự kết hợp giữa tư vấn tâm lý và dùng thuốc có thể rất hiệu quả cho hầu hết các trẻ vị thành niên mắc chứng trầm cảm.

Nếu con bạn đang bị trầm cảm nặng hoặc đang tự làm đau bản thân, trẻ cần được theo dõi ở bệnh viện hoặc cần tham gia chương trình điều trị ngoại trú cho tới khi các triệu chứng giảm bớt.

Dưới đây là những lựa chọn cho việc điều trị trầm cảm:

Một số loại thuốc được cho phép để điều trị trầm cảm cho trẻ vị thành niên. Hãy tham khảo ý kiến bác sĩ điều trị cho trẻ về các thuốc được dùng và các tác dụng phụ có thể xảy ra cũng như cân nhắc lợi ích và tác hại của từng nhóm thuốc.

Dùng thuốc

Hầu hết các thuốc chống trầm cảm đều an toàn, nhưng tất cả các thuốc này phải có nhãn cảnh báo màu đen. Trong một vài trường hợp, trẻ em, trẻ vị thành niên và người trưởng thành dưới 25 tuổi có thể gia tăng những ý định tự tử hoặc hành vi tự tử khi đang dùng thuốc chống trầm cảm, đặc biệt trong vài tuần đầu tiên sau khi bắt đầu điều trị do liều thuốc được thay đổi.

Bất kì ai đang dùng thuốc chống trầm cảm đều cần phải cẩn trọng với tình trạng chán nản trầm trọng hơn hoặc các hành vi bất thường, đặc biệt khi mới dùng thuốc một vài tuần hoặc mới thay đổi liều thuốc. Nếu trẻ có suy nghĩ muốn tự tử khi đang dùng thuốc chống trầm cảm, liên lạc với bác sĩ ngay lập tức hoặc tìm kiếm sự giúp đỡ khẩn cấp.

Ở hầu hết trẻ vị thành niên, lợi ích của việc dùng thuốc chống trầm cảm thường lớn hơn nhiều so với tác hại của nó. Luôn nhớ rằng thuốc chống trầm cảm làm giảm nguy cơ tự tử trong thời gian dài bằng cách cải thiện tâm trạng.

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Mỗi người đều khác biệt, do đó việc tìm ra loại thuốc hoặc liều thuốc phù hợp cho trẻ có thể cần phải thử và có thể không hiệu quả một vài lần. Việc này cần sự kiên nhẫn vì một số loại thuốc cần tới vài tuần hoặc lâu hơn để phát huy đầy đủ tác dụng và để cho các tác dụng phụ giảm bớt do cơ thể tự điều chỉnh. Hãy động viên trẻ đừng từ bỏ.

Tìm ra loại thuốc phù hợp:

Các đặc tính di truyền đóng vai trò quan trọng trong việc thuốc tác động tới cơ thể bạn như thế nào. Trong một vài trường hợp, nếu có thể, kết quả của các xét nghiệm di truyền (được thực hiện bởi xét nghiệm máu hoặc xét nghiệm các tế bào bong ra trong miệng) có thể cung cấp thông tin về sự đáp ứng của cơ thể đối với một loại thuốc chống trầm cảm nhất định. Tuy nhiên, ngoài di truyền thì các yếu tố khác vẫn có thể tác động lên cách phản ứng của cơ thể đối với thuốc.

Cẩn thận theo dõi việc sử dụng thuốc của con bạn. Để có được hiệu quả tốt nhất, thuốc chống trầm cảm cần dùng liên tục ở liều được kê đơn. Vì quá liều có thể gây tác hại cho trẻ, bác sĩ có thể kê đơn một số lượng thuốc nhỏ vào một thời điểm hoặc khuyên bạn giữ các thuốc này lại, do đó trẻ không có được một lượng lớn thuốc trong tay trong cùng một thời điểm.

Quản lý các thuốc con bạn đang sử dụng:

Nếu trẻ gặp các tác dụng phụ của thuốc, bạn không nên cho trẻ ngưng thuốc mà không hỏi qua ý kiến bác sĩ. Một vài thuốc chống trầm cảm có thể gây ra một vài triệu chứng khi cai nghiện trừ khi liều dùng được giảm dần – dừng thuốc đột ngột có thể làm nặng hơn tình trạng trầm cảm của trẻ.

BÁC SĨ TƯ VẤN QUA ĐIỆN THOẠI: 19001246

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Gia đình có tác động rất lớn đến quá trình điều trị bệnh trầm cảm cho trẻ

Trị liệu tâm lý có thể gồm 2 người, bác sĩ và bệnh nhân, hoặc với người thân trong gia đình hoặc trong một nhóm nhỏ. Thông qua các buổi trị liệu, con bạn có thể:

Liệu pháp trị liệu tâm lý

Ở một số trẻ vị thành niên, chứng trầm cảm rất nghiêm trọng và cần phải nhập viện, đặc biệt khi trẻ đang có hành vi tự làm đau chính mình hoặc gây hại tới người khác. Điều trị tâm lý tại bệnh viện có thể giúp con bạn bình tĩnh và an toàn cho tới khi các triệu chứng được kiểm soát tốt hơn.

Tìm hiểu được nguyên nhân gây ra trầm cảm

Học cách xác định và thay đổi các hành vi hoặc suy nghĩ không lành mạnh

Khám phá các mối quan hệ và những trải nghiệm

Tìm ra cách để đối mặt và giải quyết vấn đề

Đặt ra các mục tiêu thực tế

Tìm lại cảm giác hạnh phúc và kiểm soát

Giúp giảm bớt các triệu chứng trầm cảm như cảm thấy thất vọng và giận dữ

Điều chỉnh tâm lý cho một khủng hoảng hoặc các khó khăn hiện có khác

Các chương trình điều trị trong ngày cũng có ích vì chúng cung cấp các sự hỗ trợ và tư vấn tâm lý cho trẻ khi các triệu chứng trầm cảm đã được kiểm soát.

Nhập viện và các chương trình điều trị khác

Điều trị thay thế

Đảm bảo rằng bạn và con hiểu rõ các nguy cơ cũng như lợi ích của việc điều trị thay thế hoặc điều trị bổ sung. Đừng thay thế phương pháp điều trị truyền thống hoặc trị liệu tâm lý bằng phương pháp điều trị thay thế. Khi đã có chứng trầm cảm, điều trị thay thế không phải là sự lựa chọn tốt cho việc chăm sóc y tế.

Các ví dụ về các kĩ thuật dưới đây có thể giúp trẻ đối phó với trầm cảm:

Chỉ dựa vào các phương pháp kể trên không đủ để điều trị trầm cảm. Nhưng chúng có thể giúp trẻ khi dùng chung với thuốc và trị liệu tâm lý.

Các kĩ thuật thư giãn như hít thở sâu

Yoga

Thiền

Hướng dẫn tâm trí

Liệu pháp xoa bóp

Liệu pháp âm nhạc hoặc mỹ thuật

Đức tin

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

HỖ TRỢ TRÊN FACEBOOK: CLICK LINK

Thay đổi lối sống và cách tự chăm sóc

Bạn chính là người giúp đỡ con tốt nhất. Dưới đây là một vài cách mà bạn và con có thể làm để vượt qua căn bệnh này:

Cho con thấy bạn quan tâm và mong muốn hiểu được cảm giác của con làm trẻ biết được bạn quan tâm tới trẻ. Bạn có thể không hiểu được tại sao con lại cảm thấy thất vọng hoặc có cảm giác lạc lối hoặc thất bại, nhưng lắng nghe trẻ nói và không phán xét, đặt bản thân vào vị trí của con làm trẻ cảm thấy được thấu hiểu. Giúp con xây dựng sự tự tin bằng cách công nhận từng sự thành công nhỏ và khen ngợi con.

Khuyến khích con bạn làm những việc sau đây:

Theo sát kế hoạch điều trị: hãy chắc chắn con bạn tham dự đủ các buổi điều trị dù con không muốn đi. Ngay cả khi con bạn đã cảm thấy tốt hơn, bạn phải nhắc nhở con tiếp tục dùng thuốc như đã kê đơn. Nếu con ngưng dùng thuốc, các triệu chứng trầm cảm có thể quay trở lại và ngừng thuốc đột ngột có thể gây ra các triệu chứng dội ngược.

Tìm hiểu về trầm cảm: việc này khích lệ con bạn và động viên trẻ theo sát kế hoạch điều trị. Nó cũng giúp bạn và người thân biết về trầm cảm và hiểu rằng trầm cảm là một bệnh có thể chữa trị được.

Động viên con: nói với trẻ về những thay đổi bạn thấy được và nhấn mạnh với trẻ sự giúp đỡ không điều kiện của bạn. Hãy tạo một môi trường mà ở đó trẻ có thể chia sẻ những mối quan ngại và bạn ngồi lắng nghe chúng.

Chú ý tới các dấu hiệu báo động: nói chuyện với bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý của con về những thứ có thể làm trẻ bộc phát các triệu chứng trầm cảm. Tạo ra một kết hoạch mà bạn và con biết được cần làm gì nếu các triệu chứng trầm trọng hơn. Hãy nhờ gia đình và bạn bè giúp bạn để ý tới các dấu hiệu báo động nếu xảy ra ở trẻ.

Đảm bảo trẻ có những thói quen lành mạnh: tập thể dục đều đặn dù chỉ là các hoạt động thể lực nhẹ nhàng có thể giảm bớt các triệu chứng của trầm cảm. Một giấc ngủ ngon là điều rất quan trọng cho trẻ vị thành niên, nhất là những trẻ mắc trầm cảm. Nếu con bạn có vấn đề với giấc ngủ, hãy hỏi ý kiến bác sĩ.

Giúp con tránh xa rượu bia và chất kích thích: trẻ có thể thấy thích dùng rượu bia, cần sa hoặc các chất kích thích khác để làm giảm bớt các triệu chứng trầm cảm, nhưng trong thời gian dài chúng sẽ làm các triệu chứng trầm trọng hơn và làm cho việc điều trị trở nên khó khăn hơn. Hãy gặp bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý nếu con bạn cần giúp đỡ để đối phó với việc sử dụng rượu bia hoặc chất kích thích.

Kết bạn và giữ những mối quan hệ lành mạnh: những mối quan hệ tích cực có thể giúp con tăng sự tự tin và giữ liên lạc với những người khác. Khuyến khích con tránh kết bạn với những người có thái độ và hành vi làm cho bệnh trầm cảm của con nặng thêm.

Luôn hoạt động: tham gia các môn thể thao, các hoạt động của trường hoặc một công việc giúp con tập trung vào những điều tích cực hơn là những cảm xúc hoặc hành vi tiêu cực.

Nhờ giúp đỡ: trẻ vị thành niên có thể miễn cưỡng tìm kiếm sự giúp đỡ khi mọi thứ dường như đã quá sức trẻ. Hãy động viên con nói chuyện với một thành viên trong gia đình hoặc một người lớn khác mà trẻ tin tưởng bất kì lúc nào trẻ cần.

Đặt ra các mục tiêu thực tế: rất nhiều trẻ vị thành niên tự đánh giá bản thân khi chúng không thể đạt được các tiêu chuẩn không thực tế – ví dụ như ở các môn thể thao hoặc vẻ bề ngoài. Bạn hãy nói cho con biết rằng không hoàn hảo cũng không sao.

Sống đơn giản: động viên con lựa chọn cẩn thận các nhiệm vụ và nghĩa vụ và đặt ra các mục tiêu thực tế. Hãy cho trẻ biết khi trẻ cảm thấy nản lòng, làm việc ít lại cũng không sao.

Căn chỉnh thời gian hợp lý: giúp con lên kế hoạch các hoạt động bằng cách lập danh sách hoặc sử dụng sổ tay để giữ mọi thứ ngăn nắp.

Ghi nhật kí: nhật kí có thể giúp con bạn cải thiện tâm trạng bằng cách cho phép trẻ ghi lại những trải nghiệm đau đớn, tức giận, sợ hãi hoặc các cảm xúc khác.

Kết nối với các trẻ vị thành niên khác đang vật lộn với trầm cảm: hãy hỏi chuyên gia trị liệu xem có nhóm hỗ trợ dành cho trẻ vị thành niên bị trầm cảm ở cộng đồng hay không. Các nhóm này thường có trên internet, nhưng phải kiểm tra xem chúng có phải là những trang web tin cậy không – như nhóm Liên minh Quốc gia về bệnh tâm thần hoặc Nhóm hỗ trợ bệnh trầm cảm và rối loạn lưỡng cực.

Sống lành mạnh: hãy làm mọi thứ trong khả năng bạn để đảm bảo con bạn ăn uống đầy đủ, lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và ngủ ngon. Sử dụng các loại thức ăn lành mạnh, không trữ ở nhà các thức ăn có hại và đặt ra giờ đi ngủ trong nhà.

(Liên lạc qua điện thoại, trước khi đến trực tiếp cơ quan y tế, để tránh lây nhiễm Covid-19)

Không có cách phòng chống bệnh trầm cảm luôn đạt được hiệu quả. Tuy nhiên những điều dưới đây có thể giúp trẻ đề phòng được phần nào:

Khi thấy con em mình có các dấu hiệu, triệu chứng của bệnh trầm cảm, các bậc làm cha mẹ nên đưa con đi khám để sớm có biện pháp điều trị. Bạn có thể liên hệ đặt khám với các bác sĩ của Hello Doctor chúng tôi để nhận được sự hỗ trợ và giúp đỡ qua số điện thoại 1900 1246.

===

Kiểm soát căng thẳng, tăng khả năng phục hồi và tăng cường sự tự tin để đối mặt với các vấn đề phát sinh

Tìm kiếm sự giúp đỡ từ bạn bè và cộng đồng, nhất là những lúc căng thẳng

Điều trị sớm để ngăn ngừa trầm cảm tiến triển nặng thêm

Duy trì điều trị ngay cả khi các triệu chứng đã hết để đề phòng các triệu chứng trầm cảm quay lại.

✍ Sài Gòn: Các bác sĩ Bv Tâm Thần HCM, Đại Học Y Dược, Đại học Phạm Ngọc Thạch

✍ Hà Nội: Viện Tâm Thần Bạch Mai- Đại Học Quốc Gia (khoa Y) – Đại Học Y Hà Nội.

Bác sĩ tham vấn thông tin và hỗ trợ khám bệnh:

✍ Đà Nẵng: Bệnh viện tâm thần Đà Nẵng.

===

Video trao đổi với chuyên gia tâm thần tại Hello Doctor Nguyễn Thi Phú về căn bệnh này.

Trầm Cảm Là Gì? Hiểu Đúng Về Bệnh Trầm Cảm / 2023

Trầm cảm là một căn bệnh và nó phổ biến hơn bạn nghĩ

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trầm cảm là căn bệnh phổ biến nhất trên toàn thế giới và đứng thứ hai trong gánh nặng bệnh lý toàn cầu, chỉ sau bệnh lý mạch vành. Ước tính trên thế giới có khoảng 350 triệu người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm.

Hậu quả nghiêm trọng nhất của trầm cảm chính là hành vi tự sát. Theo thống kê tại Việt Nam, số người tự tử hàng năm lên tới 36.000-40.000 người, cao gấp 3-4 lần số ca tử vong do tai nạn giao thông. Trầm cảm chịu trách nhiệm cho 75% các vụ tự tử kể trên, còn lại 22% là do nghiện rượu, ma túy, cờ bạc và chỉ có 3% do tâm thần phân liệt, động kinh.

Sự hiểu biết không đầy đủ, hoặc sai lệch, cho rằng trầm cảm không phải bệnh lý mà là sự yếu đuối hoặc một khiếm khuyết về thần kinh dẫn tới hành vi xấu hổ, che giấu về tình trạng bệnh, thiếu sự thấu cảm của người thân…nên người bệnh không được điều trị kịp thời là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng trên. Do vậy mà nhận thức đúng đắn về trầm cảm là điều cần thiết để chúng ta có thể ngăn chặn trước khi mọi việc trở nên quá muộn màng.

Dấu hiệu nhận biết trầm cảm

Không còn thích thú hay hăm hở với bất cứ điều gì

Mất năng động

Buồn nản kéo dài hay cảm giác đời không đáng sống

Ăn kém hay ăn nhiều hơn bình thường dẫn đến thay đổi cân nặng

Ngủ nhiều hay ít hơn bình thường

Cảm giác mệt mỏi liên tục

Cảm thấy mình không có giá trị hay mặc cảm tội lỗi không có lý do

Khó tập trung hay khó ra quyết định

Dễ nóng nảy, giận dữ

Nghĩ về tự sát và chết chóc.

Đặc biệt, những người bị trầm cảm thường gặp những triệu chứng toàn thân như mệt mỏi kéo dài, cảm giác hồi hộp, tức ngực, chóng mặt, nhức đầu, đau nhức cơ thể, đau xương khớp, rối loạn tiêu hóa…trong khi thăm khám lại không phát hiện ra bất kỳ tổn thương thực thể nào. Điều này khiến cho phần lớn bệnh nhân trầm cảm đi thăm khám ở những chuyên khoa khác không phải chuyên khoa tâm-thần kinh, dẫn tới chuẩn đoán ban đầu không chính xác. Các bác sỹ khuyên rằng, nếu như bạn có ít nhất 3 biểu hiện toàn thân hoặc đã đi khám ở các chuyên khoa khác từ 4 lần trở lên thì nên tầm soát trầm cảm.

Trầm cảm có thể chữa khỏi

Trầm cảm là một bệnh lý như những bệnh lý thường gặp khác và có thể điều trị được. Vì vậy đừng ngại ngần tới gặp bác sỹ chuyên khoa để được tư vấn điều trị trầm cảm sớm.

Lời khuyên từ chuyên gia

Không sử dụng rượu bia để giải quyết tâm trạng buồn phiền vì nó sẽ làm cho tình trạng bệnh ngày càng trầm trọng hơn

Không nên tự ý sử dụng thuốc điều trị

Thuốc điều trị trầm cảm cần từ 4-6 tuần mới cho thấy rõ hiệu quả, vì vậy trong thời gian điều trị bệnh nhân cần tuân thủ theo hướng dẫn, không nên tự ý ngừng thuốc.

Trầm cảm là một bệnh mạn tính và rất dễ tái phát, vì vậy việc điều trị cần kiên trì.

Ngoài việc sử dụng thuốc bệnh nhân nên chia sẻ, đối thoại với bác sỹ để tìm ra biện pháp thích hợp cho vấn đề của mình.

Tìm một người tin cậy để chia sẻ cảm xúc

Ăn uống điều độ và vận động hợp lý cũng giúp ích rất nhiều trong điều trị trầm cảm.

Trầm Cảm Là Gì? Toàn Tập Kiến Thức Về Trầm Cảm / 2023

Có một thực tế mà không phải ai cũng biết đó là hơn 80% trong số chúng ta sẽ mắc trầm cảm trong một thời điểm nào đó của cuộc đời. Căn bệnh này không chỉ ảnh hưởng đến thần kinh, mà còn là giảm chất lượng cuộc sống.

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng gần 1 triệu người gặp vấn đề về rối loạn trầm cảm, 4% trong đó có xu hướng tự tử. Trầm cảm đang dần trở thành một trong những căn bệnh phổ biến nhất toàn cầu tuy nhiên lại chỉ có 25% trong số đó được chữa trị và có hình thức trị liệu kịp thời.

Trầm Cảm là gì?

Trước khi đi vào khái niệm trầm cảm là gì? Thanhbinhpsy muốn điểm qua về thực trạng bệnh trầm cảm hiện nay trên thế giới. Đảm bảo những con số này sẽ gây tác động mạnh tới nhận thức và cảm xúc của bạn.

Thực trạng về bệnh trầm cảm

Thế giới: Theo tổ chức Y tế thế giới WHO, trầm cảm đang dần trở thành 1 trong 2 căn bệnh phổ biến nhất toàn cầu. Những số liệu thống kê cho thấy mức độ nghiêm trọng, khủng khiếp của kẻ “sát thủ thầm lặng” này đối với con người:

Ước tính có khoảng 3-5% (230 – 385 triệu người) dân số thế giới có rối loan trầm cảm rõ rệt.

75% người bị trầm cảm thiếu hiểu biết và chưa được điều trị kịp thời và đúng phương pháp.

Mỗi năm trầm cảm lấy đi sinh mạng của 850.000 người

Tần suất nguy cơ mắc bệnh trầm cảm trong cuộc đời của mỗi người là 15-20%

Độ tuổi phổ biến mắc bệnh trầm cảm là từ 18-45 tuổi

Tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm ở phụ nữ gấp 2 lần đàn ông, xu hướng tự sát ở đàn ông lại cao hơn phụ nữ.

50% trường hợp tự sát là do trầm cảm.

Ý đồ tự sát ở người mắc hội chứng trầm cảm nhiều hơn gấp 10-12 lần so với hành vi tự sát.

Năm 2020 trầm cảm sẽ trở thành căn bệnh phổ biến xếp hạng 2 toàn cầu

Việt Nam: cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội, tỷ lệ người mắc rối loạn trầm cảm ở nước ta đang tăng lên chóng mặt.

Năm 2000 cả nước có 2.5% dân số mắc bệnh trầm cảm.

Năm 2018 số lượng người mắc bệnh trầm cảm chiếm khoảng 5% dân số.

80% người bệnh không đi khám và không tìm hiểu về bệnh của mình.

Trầm cảm là gì?

Trầm cảm là một rối loạn ảnh hưởng đến tâm trạng gây ra cảm giác buồn bã và mất hứng thú liên tục. Trầm cảm ảnh hưởng tiêu cực đến các cảm nhận, suy nghĩ và hành xử của con người.

Người bệnh dễ rơi vào tình trạng chán nản bế tắc và có có thể gặp khó khăn khi thực hiện các hoạt động thường ngày. Trong những trường hợp nặng, họ cảm thấy cuộc sống này không đáng sống nên dẫn đến tự tử để giải thoát. Trầm cảm không dễ dàng thoát ra được để ngăn chặn và điều trị căn bệnh này cần nhiều thời gian và công sức.

Thuật ngữ rối loạn trầm cảm được dùng đầu tiên trong học thuyết thể dịch của Hypocrate, tiếp sau đó Pine mô tả trầm cảm như là một trong 4 loại loạn thần. Trầm cảm bắt đầu được giới y khoa chú ý từ thế kỷ XVIII tuy nhiên, khoảng cuối thế kỷ XX căn bệnh này mới bắt đầu bùng phát mạnh mẽ và được giới chuyên môn cũng như con người chú ý đến.

Cho đến năm 1992, các chuyên gia mới nghiên cứu hoàn thiện về trầm cảm bằng khái niệm bệnh học và phân loại trong Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của WHO. Và mới nhất trong Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM-V). Trong bảng phân loại này, trầm cảm được phân vào nhóm rối loạn cảm xúc.

Theo WHO “Trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, buồn bã, cảm thấy tội lỗi, tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống và kém tập trung.

Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát nhiều lần, làm suy giảm đáng kể khả năng làm việc, học tập hoặc khả năng đương đầu với cuộc sống hàng ngày. Trường hợp nặng nhất, trầm cảm có thể dẫn đến tự tử. Ở mức độ nhẹ bệnh nhân có thể được hỗ trợ chữa trị không cần dùng thuốc. Mức độ vừa và nặng người bệnh cần hỗ trợ điều trị bằng thuốc kết hợp liệu pháp tâm lý”

Từ góc độ y học, trầm cảm được biết tới là những rối loạn trong cảm xúc, từ đó gây ra hiện tượng mệt mỏi, buồn bã và khiến bạn dần mất đi niềm đam mê đối với những sở thích của mình. Hậu quả là, sự thay đổi trong cảm xúc, hành vi và lối suy nghĩ khiến chất lượng cuộc sống của bạn bị ảnh hưởng.

Tóm lại trầm cảm là một chứng rối loạn tâm lý, gây ra cảm giác chán nản kéo dài cho người bệnh. Hội chứng trầm cảm gây ảnh hưởng trực tiếp đến cách con người cảm nhận, suy nghĩ mọi thứ xung quanh và có thể dẫn đến những vấn đề phức tạp về thể chất và tinh thần.

Nếu trầm cảm không được phát hiện hoặc kéo dài trong thời gian dài nó có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng công việc và gây rạn nứt các mối quan hệ với gia đình hoặc bạn bè, thậm chí trong những trường hợp nghiêm trọng, chứng trầm cảm có thể là nguyên nhân dẫn đến tự tử. Trong các dạng trầm cảm, trầm cảm sau sinh là tình trạng rất phổ biến và vô cùng nguy hiểm.

Rất khó để có thể phân biệt được Hội chứng trầm cảm(Major Depressive Disorder) với nỗi buồn thông thường. Có một câu nói có thể coi là tóm gọn triệu chứng của trầm cảm:” Trầm cảm không phải là khi bạn thấy buồn vì mọi thứ không xảy ra theo ý bạn mà là bạn thấy buồn mặc cho mọi việc vẫn diễn ra tốt đẹp.”

Những biểu hiện và triệu chứng của trầm cảm được thể hiện qua nhiều hình thức. Các biểu hiện này có thể gặp ở người khỏe mạnh, bình thường khi gặp chuyện sốc hay buồn bực, vì vậy rất khó có thể phân biệt được đâu là tâm trạng nhất thời và khi nào thì đã mắc phải bệnh.

Cụ thể:

Hình thức bên ngoài: người có biểu hiện trầm cảm thường không chú ý đến diện mạo, áo quần lôi thôi, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc nóng nảy khó hiểu, giọng nói trầm buồn, đơn điệu vô cảm.

Lo âu và sợ hãi: Cảm giác người buồn bã, không cảm xúc, thấy trống vắng, tuyệt vọng và muốn khóc. Thường xuyên lo âu và sợ hãi mà không rõ nguyên do. Tâm trạng họ thay đổi mà không có bất kì sự kiện hay nguyên nhân nào xảy ra trước đó, hoặc sự việc không tồi tệ đến mức cảm xúc đi xuống.

Rối loạn chức năng sinh dục: giảm hoặc mất ham muốn tình dục ở cả hai phái, có thể yếu hoặc mất chức năng cương cứng ở nam giới, lãnh cảm phụ nữ thường xuất hiện sau khi sanh (hậu sản/trầm cảm sau sanh).

Các biểu hiện sinh lý khác đi kèm: kém ăn, mất cảm giác ngon miệng, mất ngủ tăng hay giảm cân nặng bất thường, có cảm giác đau nhức nhiều vùng ở thùy não, điển hình là cảm giác tức ngực, hơi thở thất thường, điều này khiến bệnh nhân thường tìm đến những nơi an toàn hơn cho bản thân, thậm chí là một mình.

Tiêu cực, giận dữ trong cách suy nghĩ: Luôn nhìn mọi thứ tiêu cực, tuyệt vọng, khó chịu, tức giận ngay cả trong những vấn đề nhỏ nhặt. Theo đó, người gặp rối loạn trầm cảm thường hay có cảm giác do dự, không chắc chắn. Tiêu chuẩn và đòi hỏi cao, yêu cầu cao với người khác và với chính mình. Dễ bị tổn thương, khó thay đổi những thói quen cũ dù không còn phù hợp, luôn ở tình trạng mệt mỏi, ủ rũ và căng thẳng, rất dễ tức giận và nổi nóng khó kiểm soát, không có hứng thú làm bất cứ chuyện gì. Luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân, và người khác, cảm giác tuyệt vọng không còn lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân và tương lai.

Khó khăn trong cuộc sống, sinh hoạt: Đối với những người bệnh nặng hơn còn gặp khó khăn hay không thể thực hiện những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay đi học, giao tiếp với xã hôi. Thậm chí những công việc vệ sinh cá nhân đánh răng, tắm giặt cũng trở nên quá sức. Điều này có thể được xem là thụ động cấp tính.

Về cơ bản các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em, thanh thiếu niên và người lớn tuổi đều giống nhau. Tuy nhiên, trẻ em và thanh thiếu niên các biểu hiện này có sự khác biệt hơn. Đó chính là sự rõ ràng hơn của các triệu chứng buồn bã, khó chịu, đau nhức cơ thể, thiếu cân hay không muốn đi học.

Ở người lớn đặc biệt là người cao tuổi thì các triệu chứng có phần khác đi hoặc khó nhận ra như: suy giảm trí nhớ, thay đổi tính cách, đau đớn về mặt thể chất, mệt mỏi, chán ăn, có suy nghĩ tự tử.

Các loại trầm cảm

Bên cạnh là một rối loạn cảm xúc lâm sàng thì trầm cảm cũng được chia thành nhiều loại. Mỗi một loại trầm cảm khác nhau lại có những biểu hiện triệu chứng, nguyên nhân và cách điều trị khác nhau.

1. Trầm cảm theo mùa (SAD)

Trầm cảm theo mùa có tên tiếng Anh là Seasonal Affective Disorder (SAD) là một rối loạn khí sắc thường xảy ra vào mùa thu và mùa đông và thường hồi phục trở lại vào mùa xuân hoặc mùa hè.Tuy nhiên trên thực tế cũng có môt số trường hợp người mắc bệnh trầm cảm theo mùa, trầm cảm vào mùa xuân hoặc đầu hè.

Theo thống kê có hơn 5% dân số Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi trầm cảm theo mùa. Tuy nhiên con số bị rối loạn trầm cảm theo mùa ở dạng nhẹ được ước tính cao hơn rất nhiều khoảng trên dưới 15%. Trầm cảm theo mùa xảy ra ở cả hai giới, thường thấy ở tuổi vị thành niên và tuổi đôi mươi, tuổi càng cao thì nguy cơ càng giảm.

Điểm khác biệt lớn nhất của trầm cảm theo mùa so với trầm cảm chung đó chính là tính chất chu kỳ khá rõ ràng. Người bệnh sẽ bắt đầu các biểu hiện triệu chứng vào mùa thu, đông và kết thúc vào mùa xuân, hè và ngược lại. Sau khi qua khỏi mùa bị ảnh hưởng người mắc hội chứng trầm cảm theo mùa có thể trở lại bình thường và có sức khỏe tâm lý tốt như mọi người.

Các triệu chứng của trầm cảm theo mùa cũng khá đặc trưng và thường xuất hiện lặp đi lặp lại qua các năm. Cụ thể như: vào đầu mùa người bệnh thường cảm thấy buồn rầu, hay lo lắng, cáu gắt; giảm sự yêu thích với các hoạt động; ăn nhiều và thích tinh bột; tăng cân; ngủ nhiều và thường thấy mơ màng; uể oải, chậm chạp.

Theo các nghiên cứu khoa học thì nguyên nhân chính của trầm cảm theo mùa đó chính là sự thay đổi ánh sáng giữa các mùa. Cụ thể, những người sống trong các khi vực có ánh sáng thay đổi đột ngột giữa các mùa trong năm thường hay mắc bệnh hơn. Ngoài ra, những người từng có người thân bị ảnh hưởng bởi hội chứng này cũng dễ bị hơn những người khác.

Sử dụng liệu pháp ánh sáng và bổ sung vitamin D được đánh giá là một trong những phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa và điều trị trầm cảm theo mùa hiệu quả.

2. Trầm cảm sau sinh

Trầm cảm sau sinh có tên tiếng Anh là Postpartum Depression là một dạng của bệnh trầm cảm ảnh hướng đến phụ nữ mà một số ít nam giới sau sinh con. Theo WHO có khoảng 85% nữ giới sau sinh con mắc phải căn bệnh này. Các tỷ lệ mắc bệnh biến thiên rất rộng và nguyên nhân là do các tiêu chuẩn chẩn đoán không thống nhất ở các nước.

Theo đó, Một khảo sát ở Bệnh viện Hùng Vương, TPHCM cho biết tỉ lệ sản phụ có biểu hiện trầm cảm sau sinh là hơn 40%, ở Từ Dũ con số này khoảng 15% trong đó có khoảng 6% trầm cảm thực sự. Một nghiên cứu ở Hoa Kỳ cho thấy cứ 7 phụ nữ Mỹ thì có ít nhất 1 người mắc trầm cảm trước lúc có bầu, trong thời gian mang thai và sau khi sinh em bé. Nghiên cứu còn chỉ ra rằng hơn một nửa số phụ nữ trầm cảm sau sinh cũng từng trải qua cơn trầm cảm trước khi mang bầu và trong thời gian mang thai.

Các biểu hiện triệu chứng của trầm cảm sau sinh thường xuất hiện từ khi người mẹ mang bầu, vài tuần sau hoặc vài tháng sau sinh. Những biểu hiện triệu chứng của trầm cảm sau sinh thường gặp là:

Sự đi xuống về cảm xúc (cô đơn, buồn bã, hay khóc, cáu gắt với người khác cảm thấy không xứng đáng với con..

Có cảm giác mất kết nối với con, sao nhãng việc chăm sóc con

Dễ lo âu và hoảng sợ, an ủi không mang lại tác dụng

Giảm giao tiếp, diễn đạt chính xác khi nói hoặc viết

Mất hứng thú trong các hoạt động và quan hệ tình dục

Các biểu hiện sinh lý: rối loạn giấc ngủ, ăn uống thất thường

Các yếu tố nguy cơ gia tăng trầm cảm sau sinh thường là những khó khăn về mặt kinh tế; sinh con so, con bị dị tật, khó sinh; sinh con trong tình trạng ly thân, li dị; có tiền sử sử dụng các chất kích thích (rượu, ma túy..); từng bị trầm cảm trong thời kỳ mang thai hoặc trong các lần sinh trước.

Cho đến nay người ta vẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác của trầm cảm sau sinh. Một số nghiên cứu cho rằng trầm cảm sau sinh là do việc thay đổi nội tiết tố của người mẹ bị rối loạn cộng với những mệt mỏi trong thai kỳ khi sinh em bé và những rắc rối trong quan hệ vợ chồng, mẹ chồng- nàng dâu.

Trầm cảm sau sinh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người mẹ và bé đặc biệt là sự phát triển trí tuệ, cảm xúc và thể chất của đứa trẻ. Tuy nhiên, trầm cảm sau sinh đáp ứng tốt với các phương pháp điều trị.

Nguyên tắc điều trị trầm cảm sau sinh cũng gần giống như các trường hợp khác đó chính là kết hợp sự giúp đỡ của bác sĩ (thuốc chống trầm cảm) với trị liệu tâm lý để người bệnh có thể cải thiện cảm xúc cũng như mối quan hệ với người khác. Vì vậy các mẹ không cần quá lo lắng vì với sự giúp đỡ của bác sĩ, nhà tâm lý và các thành viên trong gia đình, bạn có thể vượt qua tình trạng này.

3. Trầm cảm cười (Smiling Depression)

Trầm cảm cười có tên tiếng anh là Smiling Depression dùng để chỉ một trạng thái cảm xúc của những người sống với trầm cảm ở bên trong, trong khi có vẻ hoàn toàn hạnh phúc hoặc hài lòng ở bên ngoài. Cuộc sống công khai của họ khi có sự tham gia của những người khác rất bình thường, vui vẻ hoặc hoàn hảo dù cho tâm trang bên trong của họ đang rất tồi tệ.

Các biểu hiện triệu chứng của trầm cảm cười thường không được biểu hiện rõ ràng vì người mắc bệnh thường có xu hướng che giấu các triệu chứng mà họ đang gặp phải.

Trầm cảm cười không được công nhận là một điều kiện trong Cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loạn Tâm thần (DSM-5) nhưng có thể được chẩn đoán là rối loạn trầm cảm chủ yếu với các đặc điểm không điển hình.

Về cơ bản triệu chứng của trầm cảm cười đó chính là: người bệnh tỏ ra vui vẻ, hạnh phúc với mọi người từ bên ngoài. Tuy nhiên, bên trong, họ sẽ trải qua các triệu chứng đau khổ của trầm cảm với các biểu hiện bên trong như: nỗi buồn sâu thẳm, kéo dài; thay đổi cân nặng, khẩu vị, giấc ngủ; thường xuyên mệt mỏi và thờ ơ; tuyệt vọng, thiếu tự tin và tự hạ thấp giá trị bản thân.

Một triệu chứng trầm cảm cười điển hình đó chính là người bệnh có năng lượng cực kỳ thấp và cảm thấy khó có thể rời khỏi giường vào buổi sáng. Trong trầm cảm mỉm cười, mức năng lượng có thể không bị ảnh hưởng (trừ khi người đó ở một mình).

Tỷ lệ tự tử của những người mắc trầm cảm cười thường cao hơn những người mắc chứng trầm cảm thông thường. Vì họ che dấu các vấn đề của mình quá kỹ lưỡng và thiếu sự động viên hay sẻ chia nên các vấn đề của họ càng trở nên nặng nề và khó giải quyết hơn.

Nguyên nhân chính gây ra hội chứng trầm cảm cười thường được kích hoạt bởi một tình huống xấu như một mối quan hệ thất bại, mất việc hay người bệnh phải chịu nhiều áp lực từ công việc, tình cảm hay cuộc sống. Nếu không tìm cách khắc phục ngay thì chứng bệnh này sẽ dần gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe và đời sống tinh thần của người bệnh.

Trầm cảm cười không chỉ có một khuôn mặt hoặc ngoại hình. Khi những người trong mắt công chúng chết vì tự tử, nhiều người bị choáng váng vì những chiếc mặt nạ – hoặc nụ cười – họ đeo. Chẳng hạn, khi những nam nữ diễn viên nổi tiếng tự sát vì trầm cảm nhiều người đã bị sốc dù trước đó họ xuất hiện trước truyền thông với khuôn mặt vui vẻ, tràn đầu năng lượng.

Nếu bạn đang trải qua trầm cảm mỉm cười, bạn nên bắt đầu bằng cách nói chuyện với ai đó về nó. Một nơi an toàn không phán xét để bắt đầu sẽ là một văn phòng tâm lý học, các nhà tâm lý sẽ là người sẵn sàng lắng nghe, chia sẻ và hỗ trợ cho bạn vượt qua những khó khăn của mình một cách tận tâm, bảo mật và không phán xét.

4. Rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt (PMDD)

Rối loạn tâm thần tiền kinh nguyệt có tên tiếng anh là Premenstrual Dysphoric Disorder (PMDD) là một rối loạn tương tự như rối loạn tiền kinh nguyệt ( Premenstrual syndrome – PMS) nhưng nghiêm trọng hơn. PMDD gây trầm cảm hoặc lo lắng và khó chịu nghiêm trọng trong một hoặc hai tuần trước khi chu kỳ kinh nguyệt của bạn bắt đầu. Các triệu chứng thường biến mất hai đến ba ngày sau khi chu kỳ của bạn bắt đầu.

Theo thống kê thì có khoảng 5% nữ giới trong độ tuổi thành niên đến sinh đẻ gặp PMDD. Nhiều phụ nữ bị PMDD cũng có thể bị lo lắng hoặc trầm cảm.

Các biểu hiện triệu chứng của PMDD bao gồm: khó chịu kéo dài, cảm xúc thất thường hay tức giận; buồn bã hay tuyệt vọng hoặc thậm chí có ý nghĩ tự tử; thường xuyên có cảm giác căng thẳng, lo lắng; khó suy nghĩ hoặc tập trung; thiếu năng lượng…

Các triệu chứng thực thể của PMDD bao gồm: chuột rút, đầy hơi, đau vú, đau đầu, khớp hoặc cơ…

Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra được nguyên nhân chắc chắn gây ra PMDD hoặc PMS. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu thì giả thuyết nguyên nhân đến từ một hóa chất trong não (hormone) là Serotonin thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt có thể là nguyên nhân chính gây ra tình trạng PMDD.

Về điều trị PMDD các chuyên gia khuyến khích người mắc hội chứng PMDD xây dựng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh, cắt giảm các thực phẩm mặn và đường đồng thời tăng cường các hoạt động thể chất để giảm lùi các triệu chứng.

Trong trường hợp những người mắc PMDD có biểu hiện nặng thì được khuyến khích sử dụng thuốc chống trầm cảm hoặc thuốc tránh thai theo yêu cầu của bác sĩ.

Ngoài ra, người PMDD có thể tự quản lý căng thẳng (kỹ thuật thư giãn, dành thời gian cho các hoạt động yêu thích) hoặc nhờ cậy sự hỗ trợ của các nhà Tâm lý trị liệu để đạt kết quả nhanh chóng và hiệu quả hơn.

5. Rối loạn lưỡng cực – Hưng trầm cảm (RLLC)

Rối loạn lưỡng cực hay còn được gọi là Hưng- Trầm cảm (RLLC) là một loại bệnh lý tâm thần thường gặp trong xã hội hiện đại. Chứng RLLC thường được bắt đầu bằng một giai đoạn trầm cảm. Giai đoạn hưng cảm kế tiếp đó thường chỉ đến sau vài tháng, thậm chí vài năm sau. Nhiều trường hợp xuất hiện cùng lúc với trầm cảm trong trạng thái hỗn hợp hoặc sau giai đoạn bình thường không có triệu chứng.

Rối loạn hưng – trầm cảm được chia làm 3 loại với những đặc điểm về thời gian, chu kỳ và mức độ cảm xúc khác nhau: RLLC loại I, II và Cyclothymia.

Biểu hiện đặc trưng thường thấy ở những người gặp RLLC là sự thay đổi rõ rệt tâm trạng, cảm xúc, hành vi cũng như năng lực cá nhân. Những thay đổi này diễn tiến theo từng giai đoạn. Khi người mắc RLLC trong trạng thái hưng cảm (mania) biểu hiện quá mức những cảm giác phấn chấn, vui vẻ, hào hứng.

Ngược lại, khi người bệnh trong giai đoạn trầm cảm (depression) sẽ rơi vào tình trạng trầm uất, buồn chán, thờ ơ. Đôi khi, một giai đoạn bao gồm biểu hiện của cả hai trạng thái hưng cảm và trầm cảm (trạng thái hỗn hợp – mixed state).

Theo nghiên cứu của các chuyên gia thì nguyên nhân gây RLLC thường không đến từ một yếu tố đơn lẻ mà là tác động tổ hợp. Cho đến nay, người ta phát hiện ra 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình phát triển RLLC bao gồm yếu tố di truyền, đặc điểm sinh học và yếu tố môi trường tác động. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu trong thời gian gần đây còn phát hiện thêm một số nguy cơ mức RLLC cho trẻ nếu thai phụ bị cảm cúm trong thai kỳ.

RLLC gây ảnh hưởng không nhỏ cho cuộc sống của người bệnh. Đa số người gặp RLLC thường khó duy trì các mối quan hệ xã hội, nhiều khi bị mọi người xung quanh xa lánh, coi thường. Họ thường có xu hướng lạm dụng rượu bia và sử dụng các loại hóa chất kích thích, thuốc ngủ như một “cứu cánh” cho tình trạng suy giảm giấc ngủ. Cũng như trầm cảm cười, RLLC là một trong những rối loạn khiến cho người bệnh có nguy cơ tự sát cao nhất trong các loại rối loạn trầm cảm.

Về điều trị RLLC các chuyên gia khuyến khích người bệnh sử dụng thuốc theo toa của bác sĩ kết hợp với tham vấn và trị liệu tâm lý.

Chẩn đoán Trầm Cảm dựa trên ICD-10 và DSM-5

Rối loạn trầm cảm được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” không chỉ bởi tính chất nguy hiểm mà còn đến từ sự mơ hồ và lặng lẽ của rối loạn đối với từng người, từng độ tuổi là khác nhau. Hiện nay, các chuyên gia dựa trên Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của WHO. Và bảng Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM-V). để đưa ra chẩn đoán về bệnh trầm cảm.

1. Chẩn đoán trầm cảm theo DSM-V

Để chấn đoán 1 người mắc trầm cảm các bác sĩ sẽ dựa trên căn cứ hệ thống phân loại bệnh DSM-V. Theo bảng phân loại này người được cho là bị trầm cảm khi có ít nhất 4 triệu chứng diễn ra hàng ngày và kéo dài ít nhất trong 2 tuần bao gồm:

Tâm trạng buồn bã chán nản gần như cả ngày. Có thể nhận biết chủ quan qua cảm giác buồn chán, trống rỗng hoặc nhận biết khách quan qua người khác (hay khóc..)

Giảm hoặc lên cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng.

Mất ngủ hoặc ngủ triền miên.

Kích động hoặc trở nên chậm chạp.

Mệt mỏi hoặc mất năng lượng

Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi.

Giảm khả năng suy nghĩ, tập trung, thường hay do dự, thiếu quyết đoán

Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.

Không còn ham muốn các lĩnh vực trong cuộc sống như phim ảnh, các hoạt động thế thao các hoạt động xã hội rơi vào trạng thái buồn không lý do,chán nản không muốn phấn đấu,làm việc. Người trầm cảm luôn có cảm giác bị bỏ rơi, bị mọi người xa lánh.

2. Chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10

Các chẩn đoán về bệnh trầm cảm được các chuyên gia dựa trên bảng chẩn đoán trầm cảm theo ICD-10 mục F32 bao gồm các yếu tố sau:

Giai đoạn trầm cảm nhẹ (người bị bệnh cảm thấy không được khỏe và tìm sự giúp đỡ của bác sĩ, sinh hoạt bình thường) (F32.0)

Trầm cảm mức trung bình (những yêu cầu trong công việc và việc nhà không thể đảm nhiệm nổi) (F32.1)

Trầm cảm nặng (bệnh nhân cần được điều trị tâm lý xã hội) (F32.2)

Trầm cảm nặng kèm theo những biểu hiện thần kinh khác (F32.3)

Những giai đoạn trầm cảm khác (F32.8 và F32.9)

Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra được nguyên nhân chính xác gây ra rối loạn trầm cảm cũng như chưa giải thích một cách chính xác về nó. Tuy nhiên, dựa trên các biểu hiện triệu chứng và chẩn đoán các chuyên gia đưa một số nguyên nhân dẫn đến trầm cảm được xếp thành 3 nhóm chính như sau:

1. Trầm cảm nội sinh (còn gọi là trầm cảm chưa rõ nguyên nhân)

Có nhiều giả thuyết về nguyên nhân của trầm cảm nội sinh được cho là do di truyền, miễn dịch, môi trường sống và yếu tố xã hội… bao gồm:

Sự khác biệt về sinh học: Những người bị trầm cảm thường có những thay đổi về thể chất trong não bộ của hộ.

Thay đổi hóa chất trong não: Nghiên cứu gần đây cho thấy hóa chất Neurotransmitters là các hóa chất tự nhiên có trong não thay đổi (về chức năng và hiệu quả) và giảm khả năng tương tác lẫn nhau sẽ ảnh hưởng đến sự ổn định tâm trạng.

Yếu tố di truyền: Ít người tin rằng trầm cảm bị ảnh hưởng bởi yếu tố di truyền, nhưng theo một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng có khoảng 46% các cặp song sinh cùng trứng sẽ cùng mắc trầm cảm. Nếu bố mẹ mắc bệnh trầm cảm thì sau khi sinh con cái có nguy cơ mắc bệnh trầm cảm cao hơn bình thường.

Giới tính: Theo các nghiên cứu thì tỉ lệ phụ nữ mắc bệnh trầm cảm cao gấp đôi so với nam giới. Nguyên nhân là do phụ nữ thường có nhiều áp lực dồn nén, gia đình, con cái không có thời gian chia sẻ cũng như thời gian chăm sóc bản thân, thay đổi hormone trong cơ thể cũng dẫn tới trầm cảm.

Yếu tố văn hoá – xã hội: Những sang chấn tâm lý – xã hội đã góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm. Tỉ lệ trầm cảm thường thấy tương đối cao ở người nghèo, dân tộc thiểu số và những người có nguồn trợ cấp xã hội ít ỏi. Những người nghèo hèn, rách nát thường bị coi thường, khinh miệt, nhất là trẻ em khi đến trường. Việc chúng khoác lên mình bộ quần áo bẩn thỉu hay không hợp mốt thôi cũng khiến lũ trẻ nhà giàu xỉa xói, điều này diễn ra nhiều gây trầm cảm, thậm chí là tự kỷ.

2. Trầm cảm do căng thẳng

là hội chứng trầm cảm do áp lực cuộc sống, hoặc do những điều bất thường xảy ra, chẳng hạn như khi mất việc làm, mâu thuẫn trong gia đình, con cái hư hỏng, bị trù dập ở nơi làm việc, làm ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc có người thân chết đột ngột…

Căng thẳng kéo dài: Căng thẳng, stress kéo dài sẽ làm mất đi sự cân bằng tâm lý cho người bình thường, căng thẳng cuộc sống cũng giống như sự chấn động mạnh về tâm lý cũng là nguyên nhân gây ra căn bệnh này.

Mất ngủ thường xuyên: Chắc chắn khi mất ngủ thường xuyên sẽ khiến bạn căng thẳng lú lẫn đầu óc ảnh hưởng đến các triệu chứng của trầm cảm. Vì vậy, hãy chú ý đến giờ giấc ngủ nghỉ của mình cho đúng giờ vào mỗi đêm.

Những sự kiện chấn động: Sự căng thẳng quá độ đến từ những sự kiện, những biến động trong cuộc sống thường ngày, sự mất mát người thân, tranh cãi, áp lực trong công việc hay những mối quan hệ xấu với mọi người xung quanh.

Tâm lý bi quan: Nghiên cứu cho thấy những người có tính cách bi quan có nhiều khả năng trở lên bị trầm cảm hơn những người sống lạc quan, vui vẻ và ưa sự chia sẻ. Do đó, một thái độ sống tích cực, năng động và hòa đồng sẽ giúp bạn tránh xa nguy cơ trầm cảm đấy.

3. Trầm cảm do các bệnh thực tổn bao gồm các rối loạn nội tiết và các rối loạn thần kinh

Những người gặp các rối loạn thần kinh hay bị các bệnh như chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, u não, Parkinson, co giật, sa sút trí tuệ… cũng sẽ là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm. Những người mắc các bệnh lý nghiêm trọng như ung thư, tim mạch… cung có nguy cơ cao mắc chứng trầm cảm.

Ngoài ra, những người gặp rối loạn nội tiết như thay đổi chu kỳ kinh nguyệt, mang thai, sẩy thai, giai đoạn sau sinh, tiền mãn kinh hay mãn kinh ở phụ nữ hay bệnh tiểu đường, giảm năng tuyến giáp, hội chứng Cushung cũng chính là nguyên nhân bệnh trầm cảm.

Bệnh trầm cảm được xếp loại thành nguyên phát nếu như các triệu chứng xuất hiện trước và không liên hệ với bất cứ một bệnh nội khoa hoặc tâm thần có ý nghĩa nào khác. Được coi là thứ phát khi bệnh trầm cảm xảy ra sau và có liên hệ với một bệnh nội khoa hoặc tâm thần khác.

Cách phòng tránh và điều trị bệnh trầm cảm

Đối phó với trầm cảm thực sự là một cuộc chiến, chúng có thể kéo dài vài tháng đến vài năm. Để phòng tránh rối loạn trầm cảm các chuyên gia khuyến khích mọi người xây dựng chế độ ăn uống và sinh hoạt lành mạnh. Việc tập thể dục, thư giãn nghỉ ngơi cùng các phương pháp vật lý trị liệu (xoa bóp, châm cứu…) cũng có khả năng cải thiện và đẩy lùi tình trạng rối loạn trầm cảm hiệu quả.

Về điều trị rối loạn trầm cảm các chuyên gia đưa ra 3 phương pháp điều trị cụ thể như sau

Dùng thuốc: Mặc dù là một rối loạn cảm xúc tuy nhiên những người mắc bệnh trầm cảm dù nặng hay nhẹ cũng cần được sự thăm khám và chẩn đoán cho thuốc từ bác sĩ chuyên ngành.Các thuốc được dùng trong trường hợp này là thuốc chống trầm cảm. Tuy vài tình trạng của bệnh sẽ có những loại thuốc phù hợp. Tuy nhiên để đảm bảo bệnh nhân không gặp phải tác dụng phụ nên dùng thuốc theo đơn của bác sĩ và tránh tự ý mua thuốc trên thị trường.

Trị liệu tâm lý: Bên cạnh việc sử dụng thuốc theo đơn thì người mắc bệnh trầm cảm có thể cậy nhờ thêm sự giúp đỡ của các nhà tâm lý trị liệu. Các phương pháp tâm lý trị liệu sẽ giúp người bệnh hạn chế được những vấn đề tiêu cực của bệnh. Đồng thời phương pháp này giúp thay đổi và hạn chê các thói quen từng là nguyên nhân khiến bạn bị trầm cảm. Liệu pháp này còn giúp làm cho bệnh bớt trầm trọng hơn và có thể bình phục hoàn toàn sau thời gian điều trị tích cực. Ngoài ra, việc được sẻ chia và thấu cảm từ nhà tâm lý cũng giúp ích cho người trầm cảm có thể định hướng và kiểm soát cảm xúc của mình một cách tốt hơn.

Sốc điện: Đối với những bệnh nhân mắc chứng trầm cảm nghiêm trọng, không thể chữa trị bằng thuốc hoặc liệu pháp tâm lý. Bác sĩ có thể sử dụng liệu pháp sốc điện để cải thiện tình trạng bệnh. Tuy nhiên liệu pháp này có thể gây ra các tác dụng phụ như ảnh hưởng tới sức khỏe và dễ gây ra chứng mất trí nhớ tạm thời. Vì vậy chỉ nên áp dụng khi có sự chỉ định của bác sĩ để kịp thời khắc phục những vấn đề phát sinh khi trị liệu chứng trầm cảm bằng sốc điện.

Theo các chuyên gia thì việc kết hợp phương pháp điều trị trầm cảm bằng thuốc và trị liệu tâm lý nếu được kết hợp cùng nhau sẽ mang lại cho người bệnh hiệu quả và tiến bộ vượt bậc.

Liên hệ với ThanhBinhpsy để được giải đáp thắc mắc cũng như đặt lịch tham vấn tâm lý ngay hôm nay:

Cảnh Báo Bệnh Trầm Cảm Ở Thanh Thiếu Niên / 2023

“Thế giới vẫn chưa quan tâm đúng mức đến sức khỏe của thanh thiếu niên”- WHO cảnh báo về tình trạng tỉ lệ thanh thiếu niên tự tử đang có xu hướng tăng lên.

Số liệu từ nhiều nghiên cứu khác cho thấy ½ những bệnh nhân tâm thần đều có những dấu hiệu phát bệnh đầu tiên khi họ 14 tuổi mà các bậc cha mẹ không hề nhận ra diều đó.

Flavia Bustreo, người đứng đầu Bộ phận gia đình, phụ nữ và y tế trẻ em của WHO cho biết: “Nếu thanh thiếu niên có vấn đề sức khỏe tâm thần nhận được sự chăm sóc, thì có thể ngăn chặn tử vong và những tổn thương suốt đời cho họ”.

Bên cạnh đó nghiên cứu này cũng xem xét một loạt các vấn đề bao gồm cả thuốc lá, rượu và sử dụng ma túy, HIV, thương tích, sức khỏe tâm thần, dinh dưỡng, bạo lực, sức khỏe tình dục và sinh sản. Trong đó, tai nạn giao thông là nguyên nhân đứng thứ hai gây bệnh và khuyết tật, sau trầm cảm, với tỷ lệ nam giới tử vong nhiều gấp 3 lần nữ giới.

WHO cho rằng để giảm nguy cơ xảy ra tai nạn giao thông, các quốc gia cần phát triển một hệ thống giao thông công cộng đáng tin cây và gần gũi hơn đến người dân, đồng thời cải thiện các quy định an toàn giao thông như giới hạn nồng độ cồn và tốc độ tối đa, thiết lập các khu vực người đi bộ an toàn xung quanh các trường học và thắt chặt các kỳ sát hạch lái xe. Trên toàn thế giới, ước tính có 1,3 triệu thanh thiếu niên tử vong vào năm 2012. Ba nguyên nhân tử vong hàng đầu trên toàn cầu là: tai nạn giao thông đường bộ, HIV/AIDS và tự tử.

Những căn bệnh truyền nhiễm khác cũng là nguyên nhân gây chết người. Dù vậy, bên cạnh đó đã có những thành công đáng chú ý như việc giảm 90% ca tử vong và tàn tật do bệnh sởi ở châu Phi nhờ chương trình tiêm chủng ở trẻ em trong thập kỷ qua.

Theo CAN, các bệnh truyền nhiễm phổ biến đã được lưu tâm ở trẻ nhỏ là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu. Ví dụ như nhiễm trùng đường tiêu hóa và nhiễm trùng hô hấp đứng thứ hai và thứ tư trong số các nguyên nhân tử vong cho trẻ từ 10 đến 14 tuổi, -WHO cho biết .