Top 11 # Bệnh Án Xơ Gan Y Học Cổ Truyền / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Kidzkream.com

Y Học Cổ Truyền Xơ Gan (Đông Y) / 2023

Xơ gan là một bệnh lý có nhiều biểu hiện lâm sàng phản ánh một tổn thương nhu mô gan không hồi phục bao gồm sự hóa sợi lan tỏa phối hợp với sự thành lập của đảo nhu mô gan tân sinh. Những hình ảnh này là kết quả từ sự hoại tử tế bào gan, sự sụp đổ hệ thống võng nội mô nâng đỡ cùng với sự ứ đọng các mô liên kết, sự rối loạn hệ mạch máu và sự tân tạo những nốt chủ mô gan. Diễn tiến bệnh lý này có thể coi như là con đường chung cuộc của bất cứ loại tổn thương gan mạn tính nào.

Hình ảnh lâm sàng của xơ gan xuất phát từ những thay đổi hình thái học sẽ phản ảnh mức độ trầm trọng của tổn thương hơn là nguyên nhân của các bệnh đưa tới xơ gan. Sự mất chức năng của khối tế bào gan sẽ đưa tới vàng da, phù, rối loạn đông máu và hàng loạt các rối loạn biến dưỡng khác. Trong khi sự hóa sợi và xáo trộn cấu trúc mạch máu sẽ đưa tới tăng áp lực tĩnh mạch cửa và các biến chứng của nó. Còn cổ chướng và bệnh cảnh não gan là kết quả từ sự suy tế bào gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa.

Hiện nay, cách phân loại xơ gan có lẽ hữu ích nhất là kết hợp giữa nguyên nhân và hình ảnh mô học theo như cách phân loại sau đây:

Xơ gan do rượu.

Xơ gan sau hoại tử hoặc sau siêu vi.

Xơ gan do mật.

Xơ gan do tim.

Xơ gan do chuyển hóa, di truyền hoặc thuốc.

Cơ chế bệnh sinh

Theo y học hiện đại

Bệnh gan do rượu và xơ gan:

Thông thường một người uống rượu hơn 10 năm với liều lượng hơn 250 ml rượu các loại mỗi ngày đều có khả năng đưa đến xơ gan. Trong đó cho thấy từ 10 – 15% những người nghiện rượu sẽ mắc bệnh xơ gan. Bệnh gan do rượu thường diễn tiến làm 3 giai đoạn:

Gan mỡ: gan to, vàng, chắc, tế bào gan dãn nở bởi những không bào mỡ đẩy nhân tế bào gan sang một phía. Sự tập trung mỡ trong tế bào gan là do sự hư hại cơ chế oxyt hóa mỡ, sự tăng thu nhận và sự ester hóa acid béo, giảm sự tổng hợp và bài tiết Lipoprotein.

Viêm gan do rượu: hình ảnh thoái hóa và hoại tử tế bào gan với những tế bào hình quả bóng, sự tẩm nhuộm tế bào lympho và bạch cầu đa nhân. Các bạch cầu đa nhân bao quanh các tế bào gan có chứa thể Mallory (Hyaline). Ngoài ra còn có sự ứ đọng sợi collagen quanh tế bào trung tâm tiểu thùy gan và vùng quanh khoảng cửa.

Xơ gan cùng với sự tiếp tục uống rượu và hủy hoại tế bào gan, các nguyên bào sợi xuất hiện và kích thích sự tạo thành collagen. Những vùng mô liên kết hình chân vịt xuất hiện quanh khoảng cửa và vùng cận trung tâm tiểu thùy gan sẽ nối kết và bao lấy những khối nhỏ tế bào gan và chúng sẽ thoái hóa tạo thành những nốt nhu mô gan. Lúc đó gan sẽ nhỏ lại, xuất hiện những nốt u và trở nên cứng.

Mặc dù xơ gan do rượu là một bệnh diễn tiến nhưng nếu được điều trị thích đáng và bỏ hẳn rượu vẫn có thể chấm dứt diễn tiến của bệnh ở bất kỳ giai đoạn nào.

Xơ gan sau siêu vi, sau hoại tử:

Thống kê cho thấy ¼ số người mang mầm bệnh siêu vi B, C và 15% những người bị nhiễm siêu vi viêm gan lúc còn trẻ sẽ diễn tiến đến xơ gan. Lúc này gan thu nhỏ kích thước, cấu trúc mô học gan bị đảo lộn và được thay thế bằng những đảo tế bào gan bị tách rời bởi những dải sợi dày và rộng.

Xơ gan do mật loại nguyên phát:

Là bệnh lý rối loạn miễn dịch thường phối hợp với các hội chứng Calcinosis, Raynaud, loạn vận động thực quản, xơ cứng các ngón tay, Telangiectasy, Sicca (khô mắt và miệng), viêm tuyến giáp miễn dịch và renal tubular acidosis, 90% tìm thấy IgG kháng thể kháng ty lạp thể (AMA) có tác dụng ngăn chặn hoạt tính men của gan.

Về hình ảnh mô học có 4 giai đoạn:

Viêm hủy hoại không nung mủ đường mật trong gan, tại vùng cửa các ống mật nhỏ đều bị tẩm nhuộm bởi các tế bào viêm dày đặc cùng với hiện tượng hóa sợi đưa đến ứ mật.

Sự tẩm nhuộm giảm nhưng có hiện tượng tăng sinh các ống mật nhỏ.

Giảm số lượng ống mật liên thùy, mất tế bào gan, hóa sợi lan rộng quanh khoảng cửa.

Sự phát triển các nốt tế bào gan tân tạo lớn và nhỏ.

Xơ gan do tim:

Suy tim phải với sự truyền ngược áp lực máu lên tĩnh mạch chủ dưới và tĩnh mạch gan đưa đến xung huyết tại gan, các xoang gan dãn nở vì ứ máu. Tình trạng xung huyết và thiếu O2 lâu dài đưa đến hoại tử tế bào gan ở trung tâm tiểu thùy và sau cùng là hóa xơ từ vùng trung tâm lan tỏa tới khoảng cửa.

Bệnh Wilson:

Đây là bệnh di truyền theo gen liệt khiến cho sự chuyển hóa chất đồng bởi men ceruloplasmine bị rối loạn đưa tới sự tập trung (ứ đọng) chất đồng trong gan và một số cơ quan khác.

Porphyria Cutanea Tarda (PCT):

Thiếu hụt men uroporphyrin decarboxylase đưa đến ứ đọng porphyria trong gan. Ngoài ra có thể do bị nhiễm một số hóa chất như hexachlorobenzen, di- trichlorophenol và 2, 3, 7, 8 tetrachlorodibenzo-p-dioxin.

Theo y học cổ truyền

Chứng xơ gan cổ chướng thuộc phạm trù chứng Trướng và Hoàng đản theo y học cổ truyền mà nguyên nhân có thể do:

Cảm thụ thấp nhiệt tà ảnh hưởng tới chức năng sơ tiết của Can, Can khí không sơ tiết khiến cho Tỳ vị không vận hóa thủy cốc đưa đến Thấp và Nhiệt. Thấp – Nhiệt uất kết đưa đến Hoàng đản. Thấp – Nhiệt uất kết lâu ngày làm tổn hao khí huyết của Tỳ vị khiến cho các chức năng của Tỳ vị từ giáng nạp thủy cốc – vận hóa thủy cốc – thăng thanh giáng trọc – vận hóa thủy thấp – thống nhiếp huyết đến chủ cơ nhục tứ chi đều bị tổn thương, đưa đến chán ăn, đầy bụng, nôn mửa, tiêu phân sống, phù, cổ chướng, chảy máu, gầy sút cân…

Ngoài ra còn phải kể đến nguyên nhân ẩm thực thất thường và uống rượu cũng trực tiếp làm tổn hại đến công năng Tỳ vị.

Theo y học hiện đại

Xơ gan do rượu:

Bệnh gan mỡ thường không có triệu chứng và khó nhận biết.

Viêm gan do rượu thường chán ăn, buồn nôn, mệt mỏi, sụt cân, cảm giác khó chịu ở trong bụng và vàng da. Sốt 39oC gặp trong ½ trường hợp. Gan to, đau và lách to gặp trong 1/3 trường hợp và dấu sao mạch. Nặng hơn có thể là cổ chướng, phù, xuất huyết và bệnh cảnh não gan.

Xơ gan: Triệu chứng lâm sàng có thể âm ỉ, kín đáo trong 40% trường hợp, thông thường bệnh nhân chán ăn và suy dinh dưỡng đưa đến sụt cân, teo cơ, vàng da ngày một tăng dần, xuất huyết tiêu hóa, cổ chướng và bệnh cảnh não gan. Khám gan có thể có triệu chứng gan to hoặc bình thường hoặc nhỏ, ngoài ra còn có những dấu hiệu vàng da, lòng bàn tay son, móng tay mặt kính đồng hồ (clubbing finger), lách to, cổ chướng và/hoặc phù toàn thân. Đàn ông có triệu chứng vú to, teo tinh hoàn, rụng lông. Phụ nữ bị rối loạn kinh nguyệt.

Xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy:

SGOT tăng nhẹ trong giai đoạn gan mỡ, đôi khi có tăng Phosphatase Alkaline và Bilirubine.

Có dấu hiệu thiếu máu, tăng năng lách và thiếu máu huyết tán.

Thời gian Prothrombine kéo dài.

Albumine máu giảm, Globuline máu tăng, đôi khi có tăng Amoniac/máu.

Để đánh giá tiên lượng 1 người xơ gan do rượu, người ta thường dùng chỉ số Disriminant Fraction.

Nếu tỷ số càng cao tiên lượng càng xấu và tỷ lệ sống sót sau 5 năm không quá 50%.

Xơ gan sau siêu vi, sau hoại tử:

Với dấu hiệu lâm sàng của tăng áp cửa rõ ràng như cổ chướng, lách to, tăng năng lách, xuất huyết do vỡ, dãn tĩnh mạch thực quản và bệnh cảnh não gan. 75% trường hợp bệnh nhân chết trong khoảng 1 – 5 năm do xuất huyết, bệnh cảnh não gan hoặc ung thư gan.

Xét nghiệm cận lâm sàng cho thấy:

Gama Globuline tăng.

Trong giai đoạn nặng hơn, có thể gặp Albumine máu giảm, Prothrombine kéo dài.

Chẩn đoán nguyên nhân dựa vào test huyết thanh (xem bài Viêm gan mạn).

Xơ gan do mật nguyên phát:

90% gặp ở phụ nữ tuổi 35 – 60. Đầu tiên ngứa lòng bàn tay chân, mệt mỏi, sau nhiều tháng năm vàng da xuất hiện, da trở nên sậm màu ở những vùng phơi ra ánh sáng. Tình trạng tiêu phân mỡ và rối loạn hấp thu đưa đến thiếu sinh tố D với triệu chứng đau xương do nhuyễn xương hoặc loãng xương, thiếu sinh tố A với triệu chứng quáng gà, thiếu sinh tố E với triệu chứng viêm da cùng với tình trạng suy tế bào gan và tăng áp cửa. Bệnh nhân chỉ sống từ 5 – 10 năm kể từ khi có dấu hiệu đầu tiên của bệnh.

Xét nghiệm cho thấy:

Phosphatase alkaline tăng gấp 2 – 5 lần so với trị số bình thường.

5′ nucleotidase tăng.

Bilirubine tăng +++ 30 mg%, Transaminase tăng 150 – 200 UI.

Xơ gan do tim:

Gan to và đau, cảm giác đau vùng hạ sườn phải, thông thường dấu hiệu suy tim che mờ dấu hiệu của gan. Trong trường hợp suy tim do hở van 3 lá, sẽ có triệu chứng gan đập theo nhịp. Cổ chướng và phù thũng thường do suy tim đưa đến. Xuất huyết tiêu hóa ít gặp nhưng bệnh cảnh não gan rất thường gặp. Cùng với thời gian suy tim kéo dài, gan trở nên to, cứng không còn đau.

Dấu hiệu cận lâm sàng không đặc thù, chỉ cho thấy có tăng nhẹ Bilirubine, tăng Phosphatase alkaline, SGOT tăng cao và tạm thời trong những tình trạng choáng gan, thời gian Prothrombine kéo dài.

Chẩn đoán xác định dựa trên gan to, chắc với dấu hiệu cận lâm sàng của một bệnh gan mạn tính trên một bệnh nhân bị bệnh van tim, viêm thắt màng ngoài tim hay tâm phế mạn.

Cũng cần chẩn đoán phân biệt với bệnh Budd – Chiari, khi sinh thiết gan cho thấy có dãn tĩnh mạch xoang gan và xung huyết thùy trung tâm mà lại không có bệnh lý suy tim phải. Nguyên nhân là bệnh thuyên tắc tĩnh mạch gan hoặc tĩnh mạch chủ dưới do bởi bệnh:

Đa hồng cầu Rubra vera.

Hội chứng Myeloproliferative.

Đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm.

Các rối loạn tăng đông máu và việc dùng thuốc ngừa thai.

Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác gây tắc tĩnh mạch gan như xạ trị gan, thuốc chống ung thư và 1 Alcaloid Pyrrolidizine có trong dược thảo y học cổ truyền.

Bệnh Wilson:

Nên nghĩ đến ở những bệnh nhân dưới 40 tuổi bị viêm gan mạn hoặc xơ gan mà không tìm thấy nguyên nhân nào khác.

Sự chẩn đoán dựa trên:

Bệnh nhân có bệnh gan, bệnh thần kinh hoặc một rối loạn tâm thần mà nguyên nhân không xác định.

Anh chị em ruột có người bị bệnh Wilson.

Vòng Keyser-Fleicher trên giác mạc.

Nồng độ Celuroplasmine / máu < 20 mg%.

Bệnh Hemochromatosis:

Khoảng 50% bệnh nhân sẽ diễn tiến tới xơ gan và 30% diễn tiến tới ung thư gan. Bệnh có biểu hiện gan to (95% cas), tăng sắc tố da (90% cas) với màu đen của kim loại, đái tháo đường (65%), bệnh khớp (25 – 50%), hoặc suy tim, loạn nhịp tim (15%). Ngoài ra còn có những biểu hiện của suy tuyến sinh dục, suy thượng thận, suy giáp và phó giáp.

Các xét nghiệm giúp chẩn đoán như:

Sắt huyết tương: 180 – 300μg%.

Total Iron Binding Capacity: 200 – 300μg%.

Transferin saturation: 50 – 100%.

Bệnh Porphyria Cutanea Tarda:

Bệnh biểu hiện bằng những sang thương da như mụn, bọng nước ở những vùng da phơi ra ánh sáng sau đó chuyển thành những mảng trắng hoặc tăng sừng hóa, tăng sắc tố hoặc những sang thương như xơ cứng bì. Chẩn đoán xác định dựa trên sự xuất hiện Porphyrine trong nước tiểu (nước tiểu sậm đen).

Theo y học cổ truyền

Thể Can uất Tỳ hư:

Với triệu chứng mệt mỏi, chán ăn, tức nặng vùng gan, bụng trướng đầy hơi, đại tiện phân nát, rêu lưỡi mỏng, mạch huyền tế (thường gặp trong giai đoạn xơ gan còn bù).

Thể Tỳ Thận dương hư:

Mệt mỏi, ăn kém, bụng trướng, chân phù, tiểu ít, cầu loãng, sắc mặt vàng tái, lưỡi nhợt bệu, mạch trầm tế.

Thể Âm hư thấp nhiệt:

Sắc mặt vàng xậm, chảy máu da niêm, cổ chướng, chân phù, sốt hâm hấp, phiền táo, họng khô, tiểu ít, cầu táo, lưỡi đỏ khô, mạch huyền tế sác (thường gặp trên những bệnh nhân xơ gan, có rối loạn điện giải và suy tế bào gan nặng).

Thể Khí trệ huyết ứ:

Với triệu chứng đau tức hai bên mạn sườn, bụng trướng nổi gân xanh, người gầy, môi lưỡi tím, mạch tế (thường gặp trong thể xơ gan có tăng áp lực tĩnh mạch cửa).

Thể Thủy khí tương kết:

Cổ chướng phát triển nhanh, khó thở, mạch huyền sác.

Theo y học hiện đại

Nguyên tắc: Chữa bệnh nguyên nhân, giải quyết biến chứng.

Chữa bệnh nguyên nhân:

Xơ gan do rượu:

Chế độ ăn uống: Nếu không có nghi ngờ bệnh cảnh não gan nên cho ăn 1g đạm/kg thể trọng/ngày và từ 2.000 – 3.000 calo/ngày, kết hợp thêm đa sinh tố. Ngưng uống rượu hoàn toàn.

Thận trọng khi dùng những thuốc lợi tiểu, an thần, Paracetamol và tất cả những thuốc được chuyển hóa tại gan và bài tiết theo đường mật.

Thuốc sử dụng:

Tiêm B1 liều cao cho bệnh nhân có hội chứng Wernick – Korsakoff.

Colchicine 0,6 mg uống x 2 lần/ngày.

Xơ gan do siêu vi:

Sử dụng Interferon (xem Viêm gan mạn).

Chỉ tập trung giải quyết biến chứng, đặc biệt là vấn đề nhiễm trùng.

Xơ gan do mật nguyên phát:

Colchicine 0,6 mg uống x 2 lần/ngày có thể giảm diễn tiến bệnh nhưng gây rối loạn tiêu hóa. Các thuốc D- Penicillamine, Methotrexate và Cyclosporine còn đang bàn cãi.

Ursodiol 13 – 15 mg/kg/ngày cho thấy có cải thiện triệu chứng lâm sàng và sinh hóa.

Giải quyết triệu chứng:

Dùng Cholestyramine 8 – 12 g/ngày làm giảm ngứa và giảm Cholesterolemia.

Ăn ít mỡ để giảm triệu chứng tiêu phân mỡ.

Tiêm sinh tố A và D, bổ sung chất kẽm nếu quáng gà không đáp ứng với sinh tố A.

Bổ sung Calci và sinh tố D trong những bệnh lý của xương. Nên dùng 25 (OH)D3 hoặc 1,25 (OH)D3.

Xơ gan do tim:

Chữa bệnh tim.

Bệnh Wilson:

Loại bỏ đồng (Cu) ra khỏi gan bằng D- Penicillamine 1 g/ngày, uống làm nhiều lần trong ngày và điều trị suốt đời. Ngoài ra, không nên ăn sò, chocolate, gan, nấm và hạt dẻ vì có chứa chất đồng.

Bệnh Hemochromatosis:

Trích máu mỗi 500 ml/mỗi lần, liên tục trong 1 – 2 năm cho đến khi Transferin trở về bình thường. Sau đó tiệp tục mỗi 3 tháng chích máu 1 lần. Hoặc chích máu mỗi tuần 1 lần kết hợp với tiêm truyền Dexferoxamine.

Porphyria Cutanea Tarda:

Không uống rượu, không sử dụng Estrogen hoặc thuốc có chất sắt (Fe).

Trích máu 450 ml/ 1 – 2 tuần.

Hoặc Chloroquine 125 mg x 2 lần/tuần.

Giải quyết biến chứng

Cổ chướng và/hoặc phù:

Với tỷ lệ 60% trên người bị xơ gan, là nguyên nhân gây nên thiếu O2 máu (hội chứng gan phổi) và gây nguy cơ viêm phúc mạc nguyên phát.

Mục đích điều trị chỉ cần giảm cân:

0,5 kg/ngày ở người cổ chướng.

1 kg/ngày ở người có cả cổ chướng và phù.

Nghỉ ngơi tuyệt đối trên giường trong tư thế nằm ngửa.

Hạn chế muối (2g muối ăn/ngày), chỉ uống khoảng 1 lít nước/ngày để tránh hạ Natri máu.

Thuốc lợi tiểu: Spironolactone 25 mg x 4 lần/ mỗi ngày, sau mỗi vài ngày tăng thêm 100 mg cho đến khi đạt liều tối đa 400 mg/ngày. Nếu không hiệu quả nên kết hợp thêm Furosemide 20 – 80 mg/ngày.

Chọc tháo ổ bụng 1,5 – 2 lít/tuần, nên dùng khi có nguy cơ bệnh nhân bị rối loạn thông khí do cổ chướng quá to.

Truyền Albumine nhưng coi chừng nguy cơ gây xuất huyết do vỡ trướng tĩnh mạch thực quản.

Phẫu thuật nối cạnh-cạnh Porto Caval shunt hoặc Peritonco Venous shunt.

Viêm phúc mạc nguyên phát:

Với hội chứng sốt, ớn lạnh, đau khắp bụng, có phản ứng thành bụng hoặc đôi khi chỉ thấy vàng da nặng lên và bệnh cảnh não gan.

Chọc dò dịch màng bụng cho thấy:

Cấy vi trùng thường gặp các loại trực khuẩn gram (-) ở ruột, hiếm gặp hơn là các loại Pneumococci và trực khuẩn gram (+).

Ngoài ra còn có tình trạng Monomicrobial monneutrocytic bacterascite: cấy dịch màng bụng thấy có vi trùng nhưng bạch cầu neutro < 250 con, loại này thường gặp ở bệnh gan có diễn tiến không nặng lắm.

Cefotaxin 2 g/ngày trong 10 – 14 ngày. Tuy nhiên 1 liệu trình ngắn ngày (5 ngày) cũng cho kết quả tương tự.

Tuy nhiên do tỷ lệ tái phát cao, 70% trong vòng 1 năm nên cần phải phòng ngừa bằng Ciprofloxacin 750 mg/1 lần mỗi tuần, Norfofloxacin 400 mg/ngày hoặc Bactrim dùng 5 ngày/tuần. Có thể làm giảm tỷ lệ tái phát đến 65%.

Vỡ dãn tĩnh mạch thực quản:

Là yếu tố gây tử vong cao nhất ở người xơ gan (50% chỉ sống được 2 tuần và 10% chỉ sống được 1 năm).

Tiêm truyền Vasopressine 0,1 – 0,4 UI/phút, nếu trên những bệnh nhân có thiếu máu cơ tim nên kết hợp Nitroglycerine tiêm mạch hoặc Isosorbide Dinitrate ngậm dưới lưỡi vừa giảm phản ứng phụ, vừa tăng tác dụng của Vasopressine.

Hoặc tiêm tĩnh mạch 1 liều Somatostatine 250 g và sau đó tiếp tục truyền tĩnh mạch Somatostatine với tốc độ 250 g/giờ (có thể sử dụng 1 chất đồng phân với Somatostatine là Octreotide với tốc độ truyền tĩnh mạch 25 – 50 g/giờ).

Hoặc sử dụng Balloon tamponade loại Blackmode Sangstaken hoặc Minesota.

Hoặc nội soi thực quản để xơ hóa và thắt búi dãn tĩnh mạch.

Propranolol 20 – 40 mg chia làm 2 lần/ngày và có thể tăng lên 160 mg/ngày (duy trì nhịp tim chỉ bằng 75% nhịp trước đây của bệnh nhân).

Phương pháp này có thể kiểm soát được 30% tai biến xuất huyết.

Bệnh cảnh não gan:

Với các mức độ rối loạn ý thức từ rối loạn tác phong, nhân cách, trí nhớ đến hôn mê sâu cùng với dấu rung vẩy bàn tay (flapping tremor).

Loại bỏ protein ra khỏi chế độ ăn của bệnh nhân.

Xác định những yếu tố tham gia như xuất huyết tiêu hóa, rối loạn nước điện giải, thuốc an thần, nhiễm trùng, táo bón…và phải điều chỉnh ngay.

Thuốc: Lactulose (10 – 60 ml/ngày) hoặc Lactulol (10 – 20 ml/ngày) sao cho bệnh nhân đi cầu khoảng 4 – 5 lần/ngày. Neomycine 1 – 3 g x 4 lần/ngày. (Việc sử dụng men thúc đẩy chuyển hóa NH3 thành ureé – dược phẩm Ornithine carbamine transferase chưa được đánh giá là có hiệu quả).

Hội chứng gan thận:

Là một tình trạng suy thận trên bệnh cảnh xơ gan mà không tìm thấy một tổn thương thực thể nào ở thận. Nguyên nhân đưa đến hội chứng này tương tự như bệnh cảnh não gan.

Chẩn đoán dựa vào tình trạng đột nhiên bệnh nhân vô niệu (< 50 ml nước tiểu/24 giờ), huyết áp tâm thu < 90 mmHg và Na+ niệu < 5 mEq/24 giờ.

Việc điều trị tạm thời bằng tiêm truyền Dopamine chưa đem lại kết quả mong muốn.

Theo y học cổ truyền

Thể Can uất Tỳ hư:

Phép trị: Sơ Can kiện Tỳ.

Với mục đích:

Kích thích tiêu hóa thông qua tác dụng tăng hoạt tính của men tụy như Bạch truật, Phục linh, Trần bì…

Bảo vệ tế bào gan: Sài hồ, Đương quy, Đại táo, Glyciridine của Cam thảo.

Điều hòa chức năng miễn dịch: Sài hồ, Đảng sâm, Bạch truật, Glucide của Bạch thược.

Kháng virus viêm gan: Sài hồ.

Bài thuốc Sài hồ sơ can thang gia giảm gồm Sài hồ 12g, Bạch thược 8g, Chỉ thực 6g, Xuyên khung 8g, Hậu phác 6g, Cam thảo bắc 6g, Đương quy 8g, Đại táo 8g.

Nếu cảm giác đau tức nặng vùng gan làm bệnh nhân khó chịu nên tăng thêm liều Bạch thược, Cam thảo 12g, Xuyên khung 10g, Chỉ thực 10g, Hậu phác 10g.

Bài thuốc Sài thược lục quân gia giảm gồm Sài hồ 12g, Bạch thược 12g, Bạch truật 12g, Đảng sâm 12g, Phục linh 8g, Trần bì 6g, Bán hạ 6g, Cam thảo bắc 6g.

Phân tích bài thuốc:

Nếu bệnh nhân chán ăn, người mệt mỏi, đại tiện phân máu gia thêm Bạch truật, Đảng sâm mỗi thứ 10g, Phục linh 12g.

Nếu lợm giọng, buồn nôn gia thêm Trần bì, Bán hạ chế 10g.

Thể Tỳ Thận dương hư:

Phép trị: Ôn trung hành thủy.

Lợi tiểu: do Trạch tả, Phúc bì, Phục linh và thông qua tác dụng tăng cung lượng tim và làm tăng lưu lượng máu tới thận của Phụ tử chế, Hoàng kỳ.

Kích thích tiêu hóa thông qua sự bài tiết dịch của Quế chi, Can khương, Xuyên tiêu, Hậu phác.

Cải thiện chuyển hóa Protein ở gan, giảm NH3 máu, bảo vệ tế bào gan của Hoàng kỳ, Phụ tử chế, Phục linh.

Bài thuốc Phụ tử lý trung gia giảm gồm Phụ tử chế 12g, Quế chi 6g, Can khương 6g, Phục linh 12g, Hậu phác 6g, Trạch tả 12g, Đại phúc bì 12g, Xuyên tiêu 6g, Hoàng kỳ 12g.

Nếu bệnh nhân phù nhiều, mệt mỏi, khó thở, có thể tăng Trạch tả, Đại phúc bì 20g, Huỳnh kỳ 20g.

Nếu mệt mỏi, chỉ tăng Huỳnh kỳ 20g.

Thể Âm hư thấp nhiệt:

Phép trị: Tư âm lợi thấp.

Lợi tiểu: Trạch tả, Bạch truật, Phục linh, Rễ tranh.

Bảo vệ tế bào gan: bằng tác dụng ức chế miễn dịch như Thục địa, tăng chuyển hóa mỡ tại gan như Đan sâm, Trạch tả, Phục linh, Bạch truật cung cấp các acides amines như Hoài sơn.

Cầm máu: Thục địa.

Hạ sốt: Đơn bì.

Bài thuốc Lục vị địa hoàng gia giảm gồm Thục địa 12g, Sơn thù 8g, Đơn bì 8g, Phục linh 8g, Hoài sơn 12g, Trạch tả 8g, Bạch truật 12g, Đương quy 8g, Địa cốt bì 12g, Bạch mao căn 20g.

Nếu biễu hiện xuất huyết không thuyên giảm, bỏ Trạch tả, tăngThục địa 40g, Bạch mao căn 40g.

Nếu có sốt cao tăng liều Đơn bì và Địa cốt bì 20g, gia thêm Sinh địa 20g hoặc tăng Thục địa 40g.

Thể Khí trệ huyết ứ:

Phép trị: Công hạ trục thủy.

Lợi tiểu mạnh: Khiên ngưu, Côn bố, Hải tảo, Đại kích, Đình lịch.

Tẩy xổ: Khiên ngưu, Đại hoàng, Hắc sửu.

Bài thuốc Thập táo thang (Thương hàn luận) gồm Nguyên hoa 4g, Cam toại 4g, Đại kích 4g, Đại táo 10g.

Bài thuốc Thiên kim đại phúc thủy (nếu không thuyên giảm) gồm Khương hoàng 4g, Khiên ngưu 10g, Côn bố 12g, Hải túc 10g, Quế tâm 6g, Đình lịch 12g. (Nên kiểm tra ion đồ khi dùng kéo dài).

Thể Thủy khí tương kết:

Phép trị: Hành khí hóa ứ.

Dãn mạch, chống sự ngưng tập tiểu cầu: gây tình trạng thuyên tắc trong hệ cửa, đưa đến giảm áp lực tĩnh mạch như Xích thược, Xuyên khung, Hồng hoa, Đào nhân, Đan sâm, Nga truật.

Bài thuốc Cách hạ trục ứ thang (Y lâm cải trúc) gồm Đào nhân 12g, Hồng hoa 8g, Đương quy 12g, Xích thược 20 – 30g, Tam lăng 8g, Nga truật 8g, Đan sâm 12g, Hương phụ chế 8g, Chỉ xác 8g.

Bệnh Án Rong Kinh Y Học Cổ Truyền / 2023

Hầu hết với phép riêng biệt con gái cũng đã từng rong kinh (rong kinh), một vài từ hiện tượng chảy máu rất đa dạng, thời gian quá dài hoặc cả hai của chu kỳ kinh nguyệt chủ yếu cô đó cùng với một chu kỳ này vậy 28 ngày với thời kì chảy máu kéo dài 4 hoặc 5 ngày cũng như lượng máu mất trong khoảng 60-250 ml. chu kỳ kinh nguyệt có thể với, bất thường, đa dạng hơn hoặc không chảy máu, đau hoặc không đau, dài hay ngắn, tất cả đều có thể được thường nhật. tất cả người đều sợ rong kinh bất kể phải một ít số lượng đủ tiêu chuẩn tiến tiến được gọi thế rong kinh và buộc phải được trị bệnh . Các biểu hiện của rong kinh bện một. Kinh nguyệt ra đa dạng mà một ít hoặc ngâm hơn băng vệ sinh hoặc băng vệ sinh mỗi giờ, kéo dài đa dạng giờ. 2. Nó cần được dùng lúc số nhỏ băng 2 3. Buộc phải nên thay gạc băng vào đêm 4. Kinh nguyệt kéo dài hơn 7 ngày 5. Kinh nguyệt gồm những cục máu đông lớn 6. Kinh nguyệt nhiều mà không vận động thường ngày 7. Đau bụng liên tục 8. Bất thường chu kỳ kinh nguyệt 9. Hoặc mệt mỏi, khó thở cũng như dốc, những biểu hiện của kém máu Căn do của bệnh rong kinh: Trong một số tình trạng, con người ta không nhận ra nguyên nhân của mắc bệnh này nguyên nhân phổ biến bao gồm: Chứng rối loạn nội tiết: cần mang một ít sự cân bằng giữa hai khiêu khích tố estrogen cũng như progesterone liên lạc rụng trứng nữ giới, màng dày trong tử cung và chu kỳ kinh nguyệt được mịn màng. trường hợp vì một ít vì lý do nào khác, sự cân bằng này bị phá tan vỡ, tử cung màng dày lên rất độ cũng như tróc ra khi tạo mất kinh nguyệt quá đa dạng cân bằng hiện tượng này xảy ra chỗ số cô gái vị thành niên nhất sau ấy, lần trước tiên . kinh nguyệt, và đàn bà xung quanh mãn kinh số nhỏ số bị bệnh cũng dẫn tới xáo trộn này cân bằng, như suy tuyến giáp. sử dụng bừa bãi các hormone cũng có thể làm trường hợp này Tử cung sợi khối u: tuổi thường gặp trong thời kỳ thai cũng như dẫn tới rong kinh. Hai vì lý do trên dẫn đến 80% . của mọi các hiện tượng rong kinh Căn nguyên khác bao gồm: 1. Polyp u vậy khối u nhỏ mang chân, lớn mạnh trong tử cung 2. U nước (cyst) buồng trứng 3. Số buồng trứng ko chế tạo trứng đáng lo cũng như rụng trứng. 4. Đặt cuộn thai 5. Biến trong mang thai kỳ 6. Ung thư 7. Những dòng thuốc như thuốc chống đông máu, thuốc NSAIDs nhóm thuốc giảm đau … 8. Một những bệnh khác Nguyên do cũng như dấu hiệu nhận diện Bên dưới hai điều kiện này được coi thế nguyên cớ của 80% của rong kinh: Rối loạn nội tiết: Ở các đối tượng thường ngày, mang một vài sự thăng bằng giữa hai kích thích tố nga estrogen cũng như progesterone, gây rụng trứng, màng dày trong nội mạc tử cung cũng như thường ngày kinh nguyệt diễn ra. trường hợp vì số nhỏ lý do nào khác, sự cân bằng này bị xáo trộn, công đoạn chuyển đổi tử cung màng dày và khi kinh nguyệt tróc ra vô cùng phổ biến make up. điều này mất cân bằng điều kiện diễn ra cơ bản ở nữ giới, tuổi dậy thì, kinh nguyệt và nữ lần trước nhất . bên cạnh mãn kinh một vài số mắc bệnh cũng gây xáo trộn này cân bằng như thất bại … việc lạm dụng hormone tuyến giáp cũng sẽ gây ra trường hợp này. Sợi khối u tử cung: thường xảy ra trong thai kỳ và gây ra trong tình trạng tuổi rong kinh trường hợp số sợi khối u tử cung ở vị trí dưới niêm mạc. Ngoài ra, rong kinh mang một những căn nguyên khác: bị polyps (có thể từ nội mạc tử cung hay cổ tử cung từ kinh doanh), Humps nước (cyst) buồng trứng, lo lắng năng khiếu buồng trứng không dẫn tới trứng và rụng trứng, công cụ tử cung, hậu quả lúc có thai, ung thư, thuốc đình chỉ thai ko đúng mẹo .. . Dấu hiệu hay thấy ở những người bị bệnh có chứng rong kinh vậy kinh nguyệt kéo dài hơn 10 ngày, máu có khả năng không đa dạng dẫn tới người bệnh. chẳng thể hoạt động, đau vùng bụng dưới, luôn luôn cảm thấy mỏi mệt, khó thở và hay khó thở, mang biểu hiện ít máu trường hợp rong kinh đi kèm có sức nghiêm trọng kinh tế trong dài hạn.

Y Học Cổ Truyền Việt Nam / 2023

Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Là một bệnh rối loạn chuyển hóa gây tăng lượng acid uric trong huyết thanh. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là khớp viêm tái phát nhiều lần, dị dạng khớp, nổi u cục dưới đa và quanh khớp, bệnh tiến triển gây sỏi thận do acid uric, bệnh thận do gút. Thường gặp ở nam giới tuổi trung niên.

Xuất hiện đầu tiên trong sách ‘Đan Khê Tâm Pháp’.

Đông y còn gọi là ‘Lịch Tiết Phong, ‘Bạch Hổ Phong’, ‘Bạch Hổ Lịch Tiết’.

Nguyên nhân bệnh lý theo y học cổ truyền

Goutt là một bệnh tăng acid uric huyết thanh với những biểu hiện đau khớp cấp. Lượng acid uric huyết tăng do tăng sản xuất lượng acid uric hoặc do thận đào thải kém hoặc do cả hai. Theo YHCT, thống phong là do ngoại tà xâm nhập cơ thể gây tắc nghẽn kinh lạc, khí huyết ứ trệ tại khớp gây đau co duỗi khó khăn. Bắt đầu bệnh còn ở cơ biểu kinh lạc, bệnh lâu, tà khí vào gân xương gây tổn thương tạng phủ, chức năng của khí huyết tân dịch rối loạn, tân dịch ứ trệ thành đàm, khí huyết ngưng trệ thành ứ, đàm ứ kết mà hình thành các u cục tôphi quanh khớp, dưới da. Bệnh tiến triển lâu ngày gây tổn thương đến can thận, làm biến dạng các khớp và tái phát nhiều lần.

Y văn cổ không có ghi chứng gút nhưng có chứng “thống phong” là chỉ chứng thống tý lâu ngày khó khỏi. Cho nên bệnh thống phong có thể qui thuộc phạm trù chứng tý trong đông y.

Triệu chứng lâm sàng:

Bệnh có 2 thể lâm sàng.

l- Cấp tính: Cơn đau sưng tấy dữ dội đột ngột của khớp bàn chân, ngón cái, thường và0 ban đêm (cũng có thể ở các vị trí khác: ngón chân khác, cổ chân, gối…) khớp đỏ xẫm, ấn đau nhiều, khớp hoạt động hạn chế, kéo dài 2, 3 ngày hoặc 5, 6 ngày rồi khỏi không để lại di chứng nhưng rất dễ tái phát.

2. Mạn tính: Thường do bệnh cấp tính chuyển thành, biểu hiện viêm nhiều khớp mạn tính (khớp nhỏ, vừa và đối xứng) tái phát nhiều, thời gian ổn định rút ngắn, khớp bệnh đau nhiều kéo dài, tại khớp có thể sưng nóng đỏ không rõ nhưng thường cớ sốt, khớp dị dạng, co duỗi khó khăn, xuất hiện nốt u cục quanh khớp, dưới da, vành tai (hạt tôphi) mềm, không đau, trong chứa một chất trắng như phấn. Bệnh tiến triển lâu ngày gây tổn thương thận (viêm thận kẽ, sạn tiết niệu, tiểu máu, suy thận cấp, mạn).

Chẩn đoán và phân biệt:

* Chẩn đoán chủ yếu dựa vào:

– Triệu chứng lâm sàng (như trên) chú ý hạt Tôphi, sạn thận gút, khớp gút to, thường chủ yếu là xương bàn chân tay sưng đau không đối xứng.

Acid uric huyết tăng rõ, cao hơn 7mg%.

– Tiền sử bệnh (cách tiến triển các cơn trước).

– Tiền sử gia đình.

– Cần phân biệt với:

+ Viêm khớp dạng thấp (không có acid uric cao, khớp sưng đối xứng…)

+ Tăng acid uric huyết đơn thuần (khớp bình thường), tăng acid uric thứ phát (suy thận…).

Biện Chứng Luận Trị

Biện chứng luận trị cần chú ý đến giai đoạn phát triển của bệnh. đối với thể cấp tính chủ yếu dùng phép thanh nhiệt thông lạc khu phong trừ thấp, đối với thể mạn tính thường kèm theo đàm thấp, ứ huyết, hàn ngưng, nên tùy chứng mà dùng các phép hóa đàm, trừ thấp, hoạt huyết thông lạc, ôn kinh, tán hàn. Đồng thời chú ý đến mức độ hư tổn của âm dương, khí huyết, can thận mà bồi bổ thích hợp.

Đối với thể cấp tính: Biểu hiện chính là thể phong thấp nhiệt; đột ngột khớp ngón cái (thường gặp nhưng cũng có thể các khớp nhỏ khác) sưng nóng đỏ đau, không đụng vào được, kèm theo sốt, đau đầu, sợ lạnh hoặc bứt rứt, khát nước, miệng khô, tiểu vàng, lưỡi đỏ, rêu vàng bẩn, mạch Sác.

Điều trị: Thanh nhiệt, thông lạc, khu phong, trừ thấp. Dùng bài: Bạch Hổ Gia Quế Chi Thang Gia giảm: Thạch cao 40 – 60g (sắc trước), Tri mẫu 12g, Quế chi 4 – 6g, Bạch thược, Xích thược đều 12g, Dây Kim ngân 20 – 30g, Phòng kỷ 10g, Mộc thông, Hải đồng bì đều 10g, Cam thảo 5 – 10g, sắc uống ngày l thang, trong thời gian sưng đỏ nóng sốt.

Trường hợp thấp nhiệt nặng (Sưng tấy đau nhiều gia thêm dây Kim ngân 40 – 50g, Thổ phục linh,Ýù dĩ (tăng trừ thấp) hoặc gia thuốc hoạt huyết như Toàn Đương qui, Đan sâm, Trạch lan, Đào nhân, Hồng hoa, Tằm sa để hóa ứ chỉ thống, trường hợp có biểu chứng thêm thêm Quế chi, Độc hoạt, Tế tân để giải biểu, tán hàn chỉ thống.

+ Đối với thể mạn tính: nhiều khớp sưng to đau kéo dài, co duỗi khó, tại khớp không đỏ nóng rõ nhưng đau nhiều, dị dạng kèm theo tê dại, da tím sạm đen, chườm nóng dễ chịu, mạch Trầm Huyền hoặc Khẩn, lưỡi nhợt, rêu trắng là triệu chứng của hàn thấp ứ trệ.

Điều trị: Khu hàn, thông lạc, trừ thấp, chỉ thống. Dùng Chế Ô đầu, Tế tân đều 4 – 5g (sắc trước), Toàn Đương qui 12g, Xích thược 12g, Uy linh tiên 10g, Thổ phục linh 16g, Tỳ giải 12g, Ý dĩ nhân 20g, Mộc thông 10g, Quế chi 4 – 6g, sắc uống.

Trường hợp sưng đau nhiều khớp cứng, mạch Hoãn Hoạt, rêu lưỡi trắng bẩn dày là triệu chứng đàm trọc ứ trệ, thêm chích Cương tàm, Xuyên sơn giáp, Tạo thêmùc thích, Hy thiêm thảo, Hải đồng bì, để tăng tác dụng hoạt lạc, trừ đàm. Đau nhiều do huyết ứ (đau như dao đâm, mạch sáp, lưỡi tím bầm) thêm Ngô công, Toàn yết, sao Diên hồ sách để hoạt huyết chỉ thống.

Trường hợp thận dương hư (liệt dương, đau mỏi lưng gối, chân tay lạnh, sợ lạnh, lưỡi bệu, mạch Trầm, Hoãn vô lực thêm Bổ cốt chỉ, Nhục thung dung, Cốt toái bổ để bổ thận kiện cốt định thống, có triệu chứng khí huyết hư thêm Hoàng kỳ, Đương qui, Nhân sâm, Bạch truật…

Trên lâm sàng thường gặp:

+ Thấp Nhiệt Uẩn Kết: Khớp sưng đỏ, đau, nóng. Phiền táo, khát, nước tiểu vàng, đỏ, đầu đau, sốt, sợ lạnh, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng nhạt, mạch Nhu, Sác.

Điều trị: Tuyên thanh, lợi thấp nhiệt, thông lạc, chỉ thống. Dùng bài Niêm Thống Thang gia giảm: Đương quy, Bạch truật, Đảng sâm, Hoàng cầm đều 10g, Thương truật, Trư linh, Trạch tả, Phòng kỷ đều 12g, Long đởm thảo (sao), Khổ sâm, Tri mẫu, Thăng ma đều 6g, Ý dĩ nhân (sống), Xích tiểu đậu đều 15g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Chẩn Liệu Học).

+ Đờm Ngưng Trở Lạc: do nhiều đờm ẩm gây nên, các khớp nặng, cử động khó khăn, khớp mềm hoặc cứng, có khi sốt cao, đầu đau, lo sợ, chất lưỡi đỏ, ít rêu, mạch Tế, Sáp.

Điều trị: Hòa doanh, khứ ứ, hóa đờm, thông lạc. Dùng bài Đào Hồng Tứ Vật Thang gia giảm: Đương quy, Xích thược, Đào nhân, Mộc qua đều 10g, Hồng hoa, Uy linh tiên, Xuyên khung đều 6g, Dã xích đậu, Triết bối mẫu đều 12g, Ty qua lạc, Tạo giác thích, Giáp châu đều 4,5g. Sắc uống (Bì Phu Bệnh Chẩn Liệu Học).

+ Phong Thấp Hàn, Huyết Ứ: Bệnh phát cấp, khớp đau cứng một chỗ, lạnh thì đau nhiều, gặp ấm, nóng dễ chịu hơn, có thể bị biến dạng khớp và cứng khớp, khó cử động. Dù sưng nhưng không thấy nóng, đỏ, lưỡi trắng mỏng, mạch Hoạt, Trầm, Huyền hoặc Nhu, Hoãn.

Điều trị: khu phong, trừ thấp, ôn kinh hoạt lạc. Dùng bài Kê Huyết Phụ Tử Niêm Thống Thang: Kê huyết đằng, Nhẫn đông đằng đều 50g, Thương truật, Kinh giới huệ

Một Số BÀI THUỐC KINH NGHIỆM

+ Địa Hoàng Du Linh Phương (Hồng Dụng, bệnh viện Hồng Thập Tự Hàng Chău tỉnh Triết Giang): Sinh địa, Hoàng kỳ, Đơn sâm, Ích mẫu thảo, Tang ký sinh đều 15g, Sơn thù, Phục linh, Trạch tả đều 10g, Tần giao 20g, sắc uống.

Thận dương hư, chân lạnh, lưng gối lạnh đau thêm Tiên linh tỳ, Tiên mao đều 10g, tỳ hư bụng đầy, tiêu lỏng thêm Đảng sâm, bạch truật đều 10g, miệng khô tiểu vàng mạch Sác thêm Hoàng cầm, Hoàng bá hoặc Sơn chi đều 10g, can dương thịnh đau đầu, váng đầu thêm Câu đằng, Cúc hoa, Thiên ma đều 10g.

Kết quả lâm sàng: Trị 6 ca, tốt 2 ca (huyết áp hạ xuống bình thường, creatine xuống l,8mg%, acid uric huyết dưới 6mg% hết triệu chứng lâm sàng) tiến bộ 4 ca (triệu chứng giảm, huyết áp hạ dưới 150/90mmHg, acid dưới 7mg%) (Hiện Đại Nội Khoa Học).

+ Thống Phong Phương (Trương Huệ Thần).

1-Thương truật 9g, Hoàng bá, Ngưu tất, Hải đồng bì, Khương hoàng, Uy linh tiên đều 12g, Hy thiêm thảo 15g, Mao đông thanh 30g, Hắc lão hổ, Nhặp địa kim ngưu đều 30g, ngày l thang sắc uống. Trắc bá diệp, Đại hoàng đều 30g, Hoàng bá, Bạc hà, Trạch lan đều 15g tán bột cho mật và nước vừa đủ thành hồ đắp ngoài.

2- Quế chi, Xuyên khung đều 10g, Khương hoạt, Tang chi, Tần giao, Thương truật đều 12g, Ngưu tất, Đơn sâm, Phòng kỷ đều 15g, Cam thảo 6g sắc nước uống. Đại hoàng, Hoa hòe, Tích tuyết thảo đều 30g sắc nước thụt đại tràng.

Bài (1) có tác dụng thanh nhiệt trừ thấp trị chứng thống phong cấp thể thấp nhiệt.

Bài (2) có tác dụng tán hàn trừ thấp tý, thông lạc, chỉ thống trị chứng thống phong cấp thể hàn thấp.

– Kết quả lâm sàng: Trị 12 ca, 11 ca khớp sưng đều có giảm mức độ khác nhau, có 4 ca hết đau, giảm đau rõ, 5 ca, có giảm đau 2 ca. Đau giảm trong thời gian từ 7 – 40 ngày, bình quân 25 ngày (Hiện Đại Nội Khoa Học).

+ Xuyên sơn giáp (đau bên trái dùng đắp bên phải và ngược lại) sao vàng tán bột, Trạch lan 9g, sắc với rượu uống.

Bài thuốc dùng cho chứng Tiễn phong thống (tục gọi là Quỷ tiễn đả) hoặc đau đầu, gáy, vai, lưng, chân tay gân xương đau (Hiện Đại Nội Khoa Học).

+ Diên hồ sách, Nhục quế, Ngũ linh chi, Đương qui, Bạch chỉ, Phòng phong đều 3g. sắc uống (thêm Mộc hương 3g mài uống càng tốt) (Hiện Đại Nội Khoa Học).

+ Sinh địa 90g, Ngọc trúc 15g, Tế tân 3g, Độc hoạt, Khương hoạt, Chế xuyên ô, Thương truật, Đương qui, Bạch hoa xà đều 9g. Sắc uống. Dùng cho chứng thống phong sau khi sinh rất có hiệu quả.

+ Hoàng kỳ 12g, Đương qui, Cát căn đều 9g, Ma hoàng 3g, Bạch thược, chích thảo, Quế chi đều 6g, Sinh khương 1 lát, Táo 1 quả. Sác uống trị vai lưng đau.

+ Sung úy tử, Hà thủ ô đều 15g, đều 24g. Sắc nước lọc bỏ bã, dùng nước luộc trứng gà ăn. Dùng trị cánh tay đau có hiệu quả.

+ Bích hổ (Thằn lằn), ấu trùng Bọ dừa (bao giấy nướng, tán bột) mỗi thứ 3 con, Địa long tán bột 5 con, Mộc hương 15g, Nhũ hương 7,5g, Xạ hương 3g, Long não 15g. Tất cả tán bột chế với rượu, hồ thành hoàn bằng hạt đậuã đen to. Mỗi ngày uống lúc đói với rượu 30 viên (hoàn). (Thuốc trị chứng lịch tiết thống phong đau dữ dội điều trị nhiều thuốc không khỏi) (Hiện Đại Nội Khoa Học).

+ Xa tiền tử 15g, Tần giao, Uy linh tiên, Xuyên ngưu tất, Nhẫn đông đằng, Địa long đều 12g, Sơn từ cô, Hoàng bá đều 10g, Cam thảo 6g. Sắc nước uống. Đau nhiều thêm Xuyên ô 9g, Huyền hồ 12g, nhiệt thịnh thêm Dã cúc hoa 15g, Tử hoa địa đinh 30g, hoạt huyết thêm Đơn sâm 15g, lợi tiểu thêm Hoạt thạch 15g (Hiện Đại Nội Khoa Học).

Châm cứu Trị Chứng Gout

+ Huyệt chính: Thận du, Khí hải du, Bàng quang du, Quan nguyên, Tam âm giao. Phối với huyệt vùng đau, lân cận (A thị huyệt…).

Bệnh Án Thống Phong

Một chủ tịch công ty 57 tuổi, đến bệnh viện ngày 12 tháng 10 năm 1966, ngón cái bên chân trái sưng to gấp 2 lần bình thường, rất đau và mầu tím sẫm. Tháng 8 hai năm về trước xuất hiện tình trạng này, năm sau bệnh nhân không có khả năng đi lại được, đã sử dụng Colchicin nhưng không hiệu quả. Ngày 9 tháng 9 bệnh nhân đã đến khoa phẫu thuật chỉnh hình của phòng khám của trường đại học Y khoa Tokyo, ở đó bệnh nhân được điều trị trong 1 tháng nhưng không kết quả gì ngoại trừ hàm lượng acid uric trong máu giảm từ 9 xuống còn 6,5mg. Năm ngày sau bệnh nhân đến bệnh viện của chúng tôi, vì đau tái phát ở chân bên trái, vai trở nên cứng, đau dầu, nặng đầu, ù tai bên phải, đau thắt lưng, khát nước, thích nước, sợ lạnh, thèm gia vị và muối nhưng không thích thực phẩm ngọt, táo bón, tiểu tiện 8 đến 10 lần trong ngày và 1 lần ban đêm, nuôi dưỡng và sắc mặt tốt, mạch Huyền, bụng khỏe, ngoài ra rêu lưỡi trắng. Phúc chẩn ngực đau. Bệnh nhân được dùng bài Đại Sài Hồ Thang thêm Đại hoàng (vì có táo bón) và Thạch cao (vì có khát). Ngày 27 tháng 10 năm 1966, đau ngực đã dịu đi, phân mềm, đại tiện ngày 1 lần, tiểu tiện 4 hoặc 5 lần một ngày và 1 lần ban đêm, vì giảm lượng nước đưa vào. Ngày 2 tháng 11 chứng đau vai đã dịu đi nhưng chân vẫn còn đau. Tôi chuyển sang dùng bài Đương Quy Niêm Thống Thang. Ngày 12 tháng 11 bệnh nhân vẫn còn đau, tiếp tục dùng bài thuốc trên cùng với Bát Vị Hoàn trong 10 ngày nữa, nhưng không kết quả. Do vậy dùng bài Đại Sài Hồ Thang thêm Ma hoàng 15 ngày vì nó có tác dụng giảm đau. Ngày 12 tháng 12 chân bệnh nhân vẫn còn đau, khám lại toàn diện thấy đau ngực, phản ứng mạnh và đau khi ấn vào vùng bụng dưới. Do vậy tôi cho là huyết ứ và bệnh nhân được dùng bài Đại Sài Hồ Thang cùng với Đào Hạch Thừa Khí Thang thêm Hồng hoa, Ý dĩ. Hồng hoa làm tan huyết ứ và cải thiện tuần hoàn trong khi Ý dĩ làm giảm đau, dần dần hơn 1 năm, các chứng đau đã biến mất. Bệnh nhân dùng Đào Hạch Thừa Khí Thang đơn thuần trong 2 tháng nữa, lúc bệnh nhân trở lại bệnh viện ngày 20 tháng 3, acid uric đo được 3mg, tôi cho bệnh nhân dùng bài thuốc trên trong 2 tháng nữa, tất cả các triệu chứng đã biến mất.

2- Một chủ tịch công ty khác 45 tuổi bị thống phong ở gót chân, acid uric đo được 30mg, cân nặng 83kg, đến bệnh viện ngày 12 tháng 7 năm 1967, tôi đã cho dùng bài Đại Sài Hồ Thang thêm Hồng hoa và Ý dĩ trong 20 ngày. Bệnh nhân trở lại bệnh viện ngày 7 tháng 8, tình trạng đã được cải thiện; lượng acid uric đo được 5mg. Bệnh nhân tiếp tục dùng đơn thuốc này thêm 20 ngày nữa, và rồi 60 ngày nữa. Cuối cùng bệnh. nhân cho biết không còn đau và không tái phát.

Tập hợp đầy đủ nhất các tài liệu Y Học Cổ Truyền do

LƯƠNG Y – BÁC SĨ HOÀNG DUY TÂN

Bệnh Gút Trong Y Học Cổ Truyền / 2023

Tăng acic uric bẩm sinh: Do thiếu men H.G.P.T nên lượng acid tăng cao ngay từ nhỏ, bệnh có các biểu hiện toàn thân, thần kinh, thận và khớp, bệnh rất hiếm và rất nặng (bệnh Lesch – Nyhan).

Bệnh gút nguyên phát gắn liền với các yếu tố di truyền và cơ địa, quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng nhiều gây tăng acid uric, đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh gút.

Bệnh gút thứ phát: Do ăn nhiều gan, lòng, thịt, cá, nấm, tôm, cua, uống nhiều rượu. Do tăng cường thoái giáng purin nội sinh. Do giảm thải acid uric qua thận.

Trong bệnh gút các vi tinh thể urat lắng đọng ở màng hoạt dịch gây sưng đau các khớp, ngoài ra urat có thể lắng đọng ở một số cơ quan ngoài khớp như ở gân, túi thanh dịch, ngoài da, ngoài móng tay, chân, màng ngoài tim, cơ tim, van tim.

Bệnh gút tiến triển từ 10 – 20 năm, trong quá trình diễn biến mạn tính xen kẽ những đợt cấp làm bệnh nặng thêm. Bệnh nhân tử vong do các biến chứng thận, nhiễm khuẩn phụ, suy mòn.

Y học hiện đại chia bệnh gút thành 2 thể:

Gút cấp tính: Biểu hiện bằng những đợt viêm cấp và đau dữ dội của khớp bàn ngón chân cái nên còn gọi là “gút do viêm”.

Gút mạn tính: Biểu hiện bằng dấu hiệu nổi các cục “tophi” và viêm đa khớp mạn tính, do đó còn được gọi là “gút do lắng đọng”

Y học cổ truyền

YHCT gọi là thống phong, nguyên nhân do ngoại tà xâm phạm vào cơ thể làm bế tắc kinh lạc, khí huyết ứ trệ tại các khớp gây sưng, đau, co duỗi vận động khó. Lúc đầu bệnh còn ở bì phu kinh lạc, lâu ngày tà khí vào gân xương, tạng phủ. Khí huyết, tân dịch ứ trệ lâu ngày hóa đàm, đàm uất kết thành u cục quanh khớp, dưới da. Bệnh biểu hiện nhiều năm, đôi khi xuất hiện đợt cấp làm tổn thương can thận, làm biến dạng các khớp. Y học cổ truyền cho rằng thống phong có thể quy thuộc phạm trù chứng tý và chia làm 2 thể bệnh sau

Bệnh gút Thể phong thấp nhiệt (đợt cấp)

Triệu chứng: đột ngột khớp bàn ngón chân cái sưng, nóng, đỏ đau, không dám sờ, đụng vào, đau đầu, sốt, khát nước, miệng khô, sợ lạnh, tiểu tiện vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng, mạch phù sác.

Pháp điều trị: Khu phong, thanh nhiệt trừ thấp, hoạt huyết, chỉ thống.

Bài thuốc:

Bài 1: Gia vị tam diệu thang

Thương truật 15g Hoàng bá 12g

Ý dĩ nhân 30g Ngưu tất 12g

Mộc qua 12g Thanh đại 6g

Hoạt thạch 15g Tri mẫu 9g

Kê huyết đằng 30g Đương quy 15g

Xích thược 15 Tỳ giải 12g

Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: Bạch hổ gia quế chi thang gia giảm

Thạch cao sống 40g (sắc trước)

Tri mẫu 12g Quế chi 6g

Bạch thược 12g Xích thược 12g

Kim ngân đằng 20g Phòng kỷ 10g

Mộc thông 10g Hải đồng bì (vỏ cây vông nem) 10g

Cam thảo 8g

Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu khớp sưng đau nhiều: tăng Kim ngân đằng lên 50g và gia Thổ phục linh 16g, Ý dĩ nhân 16g để tăng khả năng trừ thấp và gia Toàn đương quy, Đan sâm, Trạch lan, Đào nhân, Hồng hoa, Tằm sa để hoạt huyết hóa ứ chỉ thống.

Nếu có biểu chứng kèm theo gia thêm Độc hoạt, Tế tân để giải biểu tán hàn chỉ thống.

Châm cứu: Châm tả Thận du, Khí hải du, Bàng quang du, Quan nguyên, Tam âm giao và các a thị huyệt tại khớp đau và vùng lân cận.

Bệnh gút Thể đàm thấp ứ trệ (mạn tính)

Gút (thống phong) mạn tính có thể tiếp theo Gút cấp tính nhưng phần lớn là bắt đầu từ từ tăng dần thông qua các đợt cấp.

Triệu chứng: Nhiều khớp sưng to, đau kéo dài, co duỗi khó, tại khớp không nóng đỏ nhưng đau nhiều, biến dạng kèm theo da tím sạm đen, chườm nóng dễ chịu, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, xuất hiện nốt u cục quanh khớp, dưới da và vành tai sờ thấy mềm, không đau, mạch trầm huyền hoặc khẩn là biểu hiện của hàn thấp ứ trệ.

Pháp điều trị: Khu hàn, thông lạc, trừ thấp, chỉ thống.

Bài thuốc:

Nghiệm phương

Ô đầu chế 4g Tế tân 4g

(Hai vị này sắc trước)

Toàn đương quy 12g Xích thược 12g

Uy linh tiên 10g Thổ phục linh 16g

Ý dĩ nhân 20g Tỳ giải 12g

Mộc thông 10g Quế chi 6g

Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu nhiều khớp sưng đau, cứng khớp, rêu lưỡi trắng, dầy bẩn, mạch hoạt là biểu hiện đàm trọc ứ trệ. Vẫn dùng bài thuốc trên gia: Trích cương tàm, Xuyên sơn giáp, Tạo giác thích, Hy thiêm thảo, Hải đồng bì để hoạt lạc trừ đàm.

Nếu các khớp đau như dao đâm, dùi chọc, mạch sáp, lưỡi tím bầm là biểu hiện của huyết ứ, gia thêm: Ngô công, Toàn yết sao, Diên hồ sách để hoạt huyết chỉ thống.

Nếu xuất hiện đau lưng mỏi gối, sợ lạnh, tay chân lạnh, chất lưỡi bệu, mạch trầm hoãn vô lực, liệt dương là biểu hiện của thận dương hư, dùng bài thuốc trên gia thêm: Cốt toái bổ, Nhục thung dung để bổ thận kiện cốt.

Nếu kèm theo dấu hiệu khí huyết hư gia thêm: Hoàng kỳ, Bạch truật, Nhân sâm, Đương quy.

Châm cứu: Châm bổ các huyệt như thể phong thấp nhiệt.

Dự phòng bệnh tái phát Chế độ ăn uống, sinh hoạt.

Kiêng uống rượu và các chất kích thích: ớt, cà phê, thuốc lá…

Hạn chế các thức ăn có chứa nhiều purin: phủ tạng động vật (lòng, gan, tim , tiết) thịt, cá, cua, nấm, rau dền, đậu Hà lan, đậu hạt các loại. Có thể ăn trứng, sữa, uống bia, hoa quả, thịt chỉ nên ăn dưới 100g/ngày.

Uống nhiều nước (tối thiểu 2 lít/ngày), nên uống các loại nước khoáng có nhiều Bicacbonat, nếu không thì uống dung dịch bicacbonat – Na 3%.

Tránh làm việc quá sức, tránh lạnh.

Không nên dùng thuốc lợi tiểu Cholorothiazid, steroid.

Phẫu thuật: Khi các u cục (tophi) quá to, cản trở vận động (ở ngón chân cái không đi giầy được, ở khuỷu tay khó mặc áo) cần phẫu thuật cắt bỏ.

Nếu có tổn thương thận: Cần chú ý tình trạng nhiễm khuẩn (viêm thận kẽ), tình trạng suy thận tiềm tàng, sỏi thận, tăng huyết áp để xử lý kịp thời