Xem Nhiều 11/2022 #️ Điều Trị Bệnh Nhược Cơ Bằng Thuốc Tây Và Thuốc Nam / 2023 # Top 15 Trend | Kidzkream.com

Xem Nhiều 11/2022 # Điều Trị Bệnh Nhược Cơ Bằng Thuốc Tây Và Thuốc Nam / 2023 # Top 15 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Điều Trị Bệnh Nhược Cơ Bằng Thuốc Tây Và Thuốc Nam / 2023 mới nhất trên website Kidzkream.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1.1 Pyridostigmin (Kalymin, Mestinon), Neostigmin (Neoeserin), Prostigmin, Edrophonium, Ambenoniumchlorid.

– Pyridostigmin: viên dẹt, viên bọc đường 10mg, 60mg. Còn có loại ống 1mg, 5mg (mạnh).

– Mestinon retard viên 180mg, là loại thuốc kiềm, thường cho uống kết hợp với Prostigmin, với liều một ngày từ 4 – 8 – 12 lần, mỗi lần 60mg hoặc hơn.

– Prostigmin, Neostigmin (Neoserin): loại viên dẹt 4mg, 15mg. Loại ống 0,5mg, 12,5mg (mạnh). Thuốc được hấp thu nhanh hơn, nhưng duy trì tác dụng kém hơn Prostigmin, do đó phần lớn được sử dụng bổ xung thêm trong trường hợp bệnh nhân nặng. Liều một ngày từ 6 – 8 – 10 – 15 – 20 viên hay có thể hơn nữa. Trường hợp cần thiết (thí dụ trước bữa ăn) cho từ 2 – 4 ống loại 0,5mg chia trong cả ngày.

– Edrophoniumchlorid: loại này thường dùng cho mục đích chẩn đoán với liều lượng 10mg tiêm tĩnh mạch, nhưng trong điều trị, lúc đầu cho 2mg, nếu sau 60 giây không có tác dụng mới tiêm nốt 8mg còn lại.

– Ambenoumchlorid(Metelase): viên nén 10mg, có tác dụng kéo dài hơn Pyridostigmin, nhưng lại khó điều chỉnh liều lượng hơn nên chỉ dùng trong những trường hợp thật cần thiết để ức chế mạnh Cholinesteraza như khi bệnh nhân bị đe doạ xuất hiện cơn. Cho liều mỗi ngày 3 lần 0,025 Metelase với mục đích để điều trị kéo dài.

– Liều lượng có tác dụng tương đương:

– Cách dùng: bắt đầu cho liều thấp (nửa viên), tác dụng sẽ xuất hiện sau 10 – 20 phút, tuỳ theo từng loại thuốc và từng thể bệnh với các mức độ nặng nhẹ khác nhau, cho chia đều lượng thuốc từ 3 – 4 lần trong ngày. Khi tăng tới liều cao (thí dụ Pyridostigmin 180mg) thì phải thận trọng theo dõi và sử trí các tác dụng phụ của thuốc. Ban ngày, nhất là khi cần thiết vận động (trước khi ăn…) thì tăng liều và ban đêm thì cho liều thấp hơn. Khi bệnh nặng cần cho liều lượng thuốc tăng và khoảng cách giữa các lần cũng ngắn hơn.

– Một số tác dụng phụ của thuốc ức chế Cholinesteraza cần chú trọng phát hiện: đó là yếu cơ tăng lên, co rút cơ bụng, ỉa lỏng, tăng tiểu tiện, tăng tiết nước bọt. Đó là những dấu hiệu quan trọng báo hiệu cho chúng ta biết thuốc ức chế Cholinesteraza đã quá liều chịu đựng, cần sử lý ngay: Atropin có thể từ ¼ mg đến ½ mg và có thể tới 1 mg bằng đường tiêm dưới da hoặc nặng thì tiêm tĩnh mạch chậm.

1.2 Một số thuốc khác

Trường hợp những loại thuốc ức chế Cholinesteraza kém hiệu quả hay có những khó khăn, chúng ta có thể dùng một số thuốc khác sau đây:

– ACTH và Corticoid liệu pháp:

+ ACTH (Hormonum Adrennocorticotropinum): cho Corticotropin (Cortrophin, Procortan…) với liều 100 UI tiêm tĩnh mạch, hoặc 160 UI tiêm bắp thịt mỗi ngày, trong 10 ngày liền. Nhưng tác dụng này chỉ tạm thời, không bền.

+ Prednisolonum (Prednisolon, Paracortol, Precortalon, Prenolone…).

Cách điều trị: tuỳ theo thuốc dạng viên hay ống tiêm cho theo phác đồ sau đây:

Bắt đầu uống một lần 100 mg một ngày trong 3 – 4 tuần. Sau đó cho uống cách nhật và giảm liều dần, tới liều thấp từ 5 – 10 mg một tuần, có thể kéo dài trong 10 tuần. Phác đồ này đạt kết quả tốt tới 80% các trường hợp và có thể tránh và hạn chế được biến chứng và các tác dụng phụ. Trong điều trị cần chú ý những chống chỉ định củaloại thuốc này.

– Thuốc kìm tế bào (Thuốc ức chế miễn dịch)

+ Azathioprin (Imuran, Imurek…):

Bắt đầu bằng liều 3mg/kg thể trọng, một lần một ngày (khoảng 100 – 150mg/ngày). Cần theo dõi tác dụng phụ gây giảm bạch cầu trong máu do ức chế tuỷ xương, cần cho bệnh nhân xét nghiệm máu định kỳ và lưu ý thuốc này gây hại tế bào sinh dục.

Thường tác dụng phụ của việc dùng Corticoid kéo dài nghiêm trọng hơn việc dùng Azathioprin nên người ta thường cho xen kẽ theo từng đợt, giảm dần liều Corticoid và đồng thời cho bắt đầu và duy trì liều Azathiopin cần thiết. Azathiopin thường có tác dụng tốt đối với bệnh nhược cơ trong 80% các trường hợp.

+ Cyclophosphanum (Cyclophosphamid, Cytosan, Endoxan…):

Bắt đầu cho liều dùng một lần một ngày từ 1 – 2mg/kg thể trọng, tác dụng trên lâm sàng là từ 1 – 12 tuần sau khi dùng thuốc (tác dụng trong giai đoạn muộn). Phải rất thận trọng khi tăng liều, phải làm xét nghiệm máu để theo dõi, không được để số lượng bạch cầu giảm xuống dưới 1500 – 2000 trong 1mm 3 máu. Tác dụng phụ của thuốc thường gặp là ức chế chức năng tạo huyết của tuỷ xương và viêm bàng quang chảy máu. Cũng có thể xuất hiện rụng tóc, rối loạn chức năng sinh dục và thời gian xa tiếp theo có các quá trình tân sản (bệnh bạch cầu, u bạch huyết bào, ung thư bàng quang…), hoá xơ ở phổi và bàng quang.

1.3 Những chỉ định xử trí đặc biệt.

Phẫu thuật cắt bỏ tuyến ức, chiếu tia Roentgen vào tuyến ức và những biện pháp điều trị đặc hiệu khác sẽ do các cơ sở chuyên khoa chỉ định và áp dụng cho từng trường hợp cụ thể.

– Chống chỉ định tuyệt đối: Cura, các dẫn chất của Mocphin, Ete, Clorofoc. Valium, Largactil, các thuốc dãn cơ, một số kháng sinh như: Neomycine, Oxytetracyclin, Kanamycin, Streptomycin.

– Chống chỉ định tương đối: thuốc ngủ, Sulfonamida, những thuốc chẹn hạch thần kinh (ganglion- blocker), Chinin, Chinidin…

1.5 Sinh đẻ và bệnh nhược cơ.

– Đối với sản phụ: nửa giờ trước khi giai đoạn đẩy thai nhi ra, cho tiêm bắp thịt từ 1 – 4 mg Prostigmin.

– Đối với trẻ sơ sinh: cần phát hiện các triệu chứng nhược cơ sau đây: như tiếng khóc nhẹ không thành tiếng, tay chân luôn ở tư thế mềm nhẽo, ít vận động. Có thể pha vào sữa Pyridostigmin liều lượng từ 5 – 10mg hoặc Prostigmin từ 1- 2mg.Cứ cách 4 giờ cho trẻ uống một liều như vậy, nếu không trẻ sẽ chết sớm do thiểu năng hô hấp.

Theo W. Kinh Engel, Marinos Dalakas (1984), về chẩn đoán bệnh nhược cơ với trẻ sơ sinh, cho tiêm tĩnh mạch 0,5mg Edrophoniumchlorid hoặc tiêm bắp thịt 1- 2mg, phản ứng sẽ xuất hiện sau 5 – 10 phút (sau tiêm bắp thịt).

Về liều lượng thuốc dùng để chẩn đoán và điều trị đạt kết quả tác dụng kéo dài khi dùng Pyridostigmin 0,05 – 0,15mg/kg thể trọng bằng tiêm bắp thịt, hoặc Neostigmine metylsulfate 0,10mg tiêm bắp thịt. Trước hặc sau khi uống thuốc ức chế Cholinesteraza, cho tiêm dưới da hoặc bắp thịt Atropin với liều 0,007- 0,01mg/kg thể trọng, chuẩn bị các phương tiện hô hấp hỗ trợ và cho ăn qua đường uống thông qua mũi – dạ dày.

Tình trạng yếu cơ của sơ sinh nhược cơ kéo dài từ 2 – 3 tháng nhưng thường trung bình 18 ngày. Trong quá trình điều trị, nếu tốt lên thì cho giảm liều dần, đồng thời chống những biến chứng về phổi và các biến chứng khác. Có thể đạt hiệu quả điều trị tốt bằng biện pháp rút bớt huyết tương ( Plasmapherese ), (J.M. Dunn), điều đó đã được khẳng định vai trò bệnh sinh của bệnh này là những IgG độc của người mẹ đã được truyền tiếp qua rau thai.

– Phẫu thuật cắt bỏ tuyên ức không có ảnh hưởng một cách chắc chắn đến tiến triển của bệnh nhược cơ nếu còn tồn tại u tuyến ức. Ngược lại, cắt bỏ tuyến ức với hình thể bình thường hình như có khả năng ảnh hưởng dài hạn tới tiên lượng của các thể chung của nhược cơ.

– Các tiến bộ về phẫu thuật lồng ngực đã giúp chúng ta mở rộng chỉ định cắt bỏ tuyến ức trong bệnh nhược cơ của người trẻ mà nhược cơ đã lan rộng ra hệ các cơ của mắt. Kết quả càng khả quan nếu can thiệp phẫu thuật sớm.

2. Xử lý những biến chứng đe doạ đến tính mạng bệnh nhân.

– Bảng lâm sàng nhược cơ tiến triển nặng lên hoặc đột ngột các cơ yếu đi nhanh, vật vã, xao xuyến, đặc biệt xuất hiện rối loạn hô hấp (triệu chứng hành tuỷ).

– Biện pháp xử lý:

+ Tiêm ngay Prostigmin 1mg vào bắp thịt hoặc 0,5mg vào tĩnh mạch của bệnh nhân.

+ Nếu vẫn còn thiểu năng hô hấp thì phải mở khí quản, luồn ống vào khí quản, hô hấp nhân tạo cho bệnh nhân.

Sau đó đưa bệnh nhân đến cơ sở Hồi sức cấp cứu.

+ Cần thường trực theo dõi chăm sóc bệnh nhân. Những biện pháp xử lý sẽ phụ thuộc vào tình trạng tiến triển của từng bệnh nhân và hiệu quả của từng phương pháp điều trị mà xử lý, chứ không nên rập khuôn máy móc.

– Lúc này, trên lâm sàng chẩn đoán phân biệt với cơn tiết Cholin có thể gặp khó khăn, có thể xuất hiện những cơ hỗn hợp. Trong trường hợp còn nghi ngờ thì cần khẩn cấp cho mở khí quản, luồn ống thông vào khí quản, hô hấp nhân tạo và đưa bệnh nhân tới các cơ sở để theo dõi và điều trị cấp cứ tiếp tục cho bệnh nhân.

Nếu trong trường hợp không có điều kiện xử lý như trên, cho tiến hành ngay thử nghiệm bằng thuốc: tiêm tĩnh mạch ngay 2mg Tensilon (Edrophoniumchlorid) hoặc tiêm tĩnh mạch Atropinum sulfuricum 1mg.

– Thẩm phân Plasma: đây là phương pháp can thiệp phức tạp và tốn kém, chỉ nên sử dụng khi tính mạng bệnh nhân bị đe doạ hoặc bệnh tiến triển nhanh chóng nhưng không còn chịu tác dụng của thuốc ức chế men Acetylcholin và các thuốc khác đã được sử dụng cho bệnh nhân. Số lần thẩm phân Plasma không cố định cũng như khoảng cách giữa các lần thẩm phân Plasma, lượng thẩm phân Plasma mỗi lần bằng 5% thể tích máu của bệnh nhân.

– Việc điều trị bằng Globulin miễn dịch đường tĩnh mạch, được áp dụng từ năm 1984 tại Viện 103 học viện quân y, nhóm tác giả đã điều trị 90 bệnh nhân nhược cơ bằng phương pháp này. Các tác giả đã truyền 400mg/ kg thể trọng, cách 5 ngày một lần. Kết quả trong số 48 bệnh nhân nặng có 70% được cải thiện tốt, tình trạng tốt lên sau 2 – 3 tuần kể từ khi bắt đầu điều trị. Kết quả kéo dài 64 ngày ở những bệnh nhân dùng Corticoid và 35 ngày ở bệnh nhân không dùng Corticoid. Đây là phương pháp tương đối an toàn cho các bệnh nhân nhược cơ nặng.

– Trong trường hợp dùng quá liều thuốc chống nhược cơ, tác dụng xấu của Muscarin và Nicotin xuất hiện: bệnh nhân có các triệu chứng như toát mồ hôi, chảy nước bọt, mệt lử, nôn, co thắt ruột, ỉa lỏng, cảm giác mót trong bàng quang, co đồng tử, tăng tiết phế quản, khó thở, phù phổi, yếu chung các cơ, giật thớ cơ, cứng hàm, chuột rút, loạn vận ngôn (nói lắp bắp), rối loạn nuốt, rối loạn hô hấp, bộ mặt bệnh cơ (lãnh đạm, vô cảm…).

– Ngoài ra còn có thể thấy: bệnh nhân ở trạng thái kích thích, vật vã, sợ hãi, xao xuyến, chóng mặt, nhức đầu, co giật, lú lẫn, ý thức u ám, hôn mê…

– Ở đây chúng ta cần chẩn đoán phân biệt với cơn nhược cơ.

– Biện pháp xử lý: tiêm ngay Atropinum Sulfuricum 1 – 2mg tĩnh mạch hoặc dưới da. Trước hết cho ngừng thuốc ức chế Cholinesteraza, sau đó nếu thấy cần thiết thì cho dùng tiếp tục nhưng với liều thấp hơn. Có thể cho tiếp tục dùng Atropin, nếu tình trạng bệnh không thuyên giảm, cho đến khi xuất hiện dấu hiệu ngộ độc Atropin (như dãn đồng tử, khô niêm mạc miệng…). Cuối cùng nếu bệnh tiến triển không tốt, cần phải áp dụng những biện pháp điều trị hồi sức tích cực và những chỉ định như trong cơn nhược cơ.

3. Điều trị bằng thuốc y học cổ truyền trong nhược cơ.

– Điều trị nhược cơ bằng thuốc nam, thuốc y học cổ truyền trong y văn thế giới và Việt Nam chưa được đề cập nhiều và cũng chưa được đi sâu nghiên cứu.

– Sau nhiều năm nghiên cứu, hiện nay Viện Y học bản địa Việt Nam đang điều trị bệnh nhược cơ bằng thuốc nam và y học cổ truyền, bước đầu đã cho kết quả khả quan, nhiều bệnh nhân dùng thuốc của Viện đã đỡ và bệnh đã ổn định… ưu điểm nhất là trong quá trình điều trị mặc dù dùng thuốc lâu dài nhưng chúng tôi chưa thấy bệnh nhân nào có tác dụng không mong muốn của thuốc, mà hiện nay các thuốc điều trị nhược cơ bằng thuốc y học hiện đại đang mắc phải.

Doctor SAMAN Ngô Quang Trúc Ts. Bs Cao cấp chuyên ngành Thần kinh

Bệnh Nhược Cơ Và Thuốc Điều Trị / 2023

Làm thế nào để biết mình mắc bệnh nhược cơ?

Bệnh cũng không có triệu chứng ban đầu rõ rệt, những dấu hiệu đầu tiên là ở mắt, biểu hiện bằng nhìn một thành hai (nhìn đôi) hoặc sụp mi mắt. Một số trường hợp khác bệnh biểu hiện bằng khó phát âm, khó nhai hoặc yếu cơ ở các chi. Sự yếu hoặc mệt mỏi cơ xuất hiện khi gắng sức và đỡ hơn khi nghỉ ngơi (đỡ về sáng sau khi ngủ dậy và nặng hơn vào buổi chiều) là đặc trưng của bệnh. Tuy nhiên trong trường hợp nặng, thậm chí khi nghỉ ngơi một thời gian dài nhưng bệnh cũng không đỡ. Bệnh có thể xuất hiện sau sang chấn tâm lý, bệnh nhiễm trùng, can thiệp ngoại khoa hoặc dùng các chất ức chế sự dẫn truyền thần kinh – cơ, có thai (trong 4 tháng đầu).

Để điều trị bệnh nhược cơ, cần phối hợp dùng thuốc điều trị triệu chứng và thuốc điều trị nguyên nhân gây ra bệnh. Tùy từng giai đoạn tiến triển của bệnh mà bệnh nhân sẽ dùng các phác đồ điều trị khác nhau. Các nhóm thuốc được dùng là:

– Thuốc kháng cholinergic: Là thuốc được sử dụng ở tất cả các thể hoặc các giai đoạn của bệnh. Thuốc có tác dụng ức chế sự phân huỷ của Acetylcholin bởi men cholinesterase và tăng độ tập trung của Acetyl cholin ở khớp nối thần kinh – cơ. Dù có tác dụng điều trị triệu chứng nhưng hiệu quả của thuốc giảm dần theo thời gian điều trị. Để thuốc có tác dụng tốt, cần phải uống thuốc trước bữa ăn từ 30 phút đến 1 giờ. Khi bệnh nhân có rối loạn nuốt hoặc bệnh ở giai đoạn cấp tính thì cần dùng thuốc tiêm. Mỗi bệnh nhân, tùy vào cân nặng, tình trạng và giai đoạn của bệnh sẽ có liều lượng khác nhau. Thuốc được chỉ định từ liều thấp rồi tăng dần tới liều thuốc mang lại hiệu quả. Nếu quá liều có thể dẫn đến rối loạn vận động tăng lên và suy hô hấp. Hiện tượng này còn được gọi là cơn cholinergic, cần được phát hiện và xử trí sớm để tránh những hậu quả đáng tiếc.

Những triệu chứng của quá liều thuốc kháng cholinergic là vã mồ hôi, tăng tiết nước bọt và dịch phế quản, buồn nôn, chậm nhịp tim, tiêu chảy, đau bụng, co đồng tử, máy cơ, chuột rút.

Để giảm tác dụng không mong muốn của thuốc kháng cholinergic, người ta có thể sử dụng atropin nhưng gây nguy cơ che khuất triệu chứng của quá liều thuốc kháng cholinergic.

– Corticoid: Được chỉ định trong trường hợp tác dụng kém với thuốc kháng cholinergic và không đỡ sau cắt bỏ tuyến ức. Thuốc cũng được chỉ định liều dùng từ thấp, sau đó tăng dần tới liều tấn công, rồi lại giảm liều dần và duy trì ở liều thấp có hiệu quả trong nhiều tháng. Khi dùng thuốc này cần được bổ sung kali và canxi, thuốc bảo vệ dạ dày, hạn chế ăn muối… để hạn chế các tác dụng phụ của thuốc. Hiệu quả điều trị sẽ đạt được sau 2 – 4 tuần và hiệu quả tối ưu sau 6 tháng đến một năm. Việc dùng corticoid phải hết sức thận trọng và được giám sát chặt chẽ, bởi corticoid là một ví dụ điển hình về con dao 2 lưỡi.

Các tác dụng phụ phổ biến và nguy hiểm của corticoid gây ra cho bệnh nhân khi buộc phải dùng thuốc dài ngày như tình trạng loãng xương, dễ bị gãy xương, lún xẹp cột sống; tích nước và muối gây phù và tăng huyết áp, nhất là huyết áp tâm thu; rối loạn dung nạp glucose hoặc đái tháo đường; viêm loét dạ dày, một số trường hợp bị chảy máu dạ dày; dễ bị nhiễm khuẩn do thuốc corticoid ức chế hệ miễn dịch của cơ thể. Đó là lý do tại sao khi dùng corticoid lại phải bổ sung các loại thuốc khác như đã khuyên ở trên. Các tác dụng nguy hiểm khác có thể gặp như suy thượng thận khi điều trị corticoid liều cao và kéo dài (trên 2 tuần) sẽ khiến tuyến thượng thận ngừng hoạt động, thậm chí bị teo và bệnh nhân sẽ bị rơi vào tình trạng suy thượng thận. Suy thượng thận là một trong những biến chứng thường gặp nhưng các triệu chứng không đặc hiệu và diễn biến âm thầm nên hay bị bỏ qua; da mỏng, dễ bị xuất huyết dưới da khi tiêm truyền hoặc va đập; các vết loét, vết mổ khó liền do corticoid ức chế quá trình liền vết mổ. Ngoài ra còn có thể gặp các tác dụng phụ khác như mất ngủ, rối loạn tâm thần, đục thuỷ tinh thể… Trẻ em dùng corticoid dài ngày dễ bị thấp lùn do corticoid ức chế tiết GH, làm giảm sự phát triển chiều cao.

Do vậy, để hạn chế những tác dụng phụ, bệnh nhân khi phải dùng corticoid để điều trị, cần chú ý:

– Tuyệt đối tuân theo chỉ định của bác sĩ về liều lượng và thời gian sử dụng thuốc.

– Định kỳ kiểm tra huyết áp và đường huyết.

– Khám mắt sau điều trị 3 tháng.

– Thông báo ngay cho bác sĩ biết nếu có rối loạn về tâm thần.

– Tránh nằm hoặc ngồi tại chỗ quá lâu vì nó làm yếu cơ nhiều hơn và làm loãng xương nặng thêm. Với những người bị gãy xương thì sau khi được điều trị nên tập vận động trở lại sớm.

– Nếu bị suy giảm ham muốn tình dục cũng cần phải thông báo cho thầy thuốc để được điều trị.

– Không bao giờ được tự ngừng thuốc corticoid đột ngột, nhất là những trường hợp đang dùng liều cao hoặc đã dùng thuốc trong thời gian dài vì nguy cơ rất cao bị suy thượng thận cấp nặng, dễ bị tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Bệnh nhân sẽ được xem xét các chỉ định khác như cắt bỏ tuyến ức nếu bệnh nhân mắc nhược cơ thể toàn thân ở người trên 40 tuổi và không đáp ứng với các phương pháp điều trị khác. Trong trường hợp u tuyến ức có xâm lấn, cần tiến hành điều trị tia xạ hoặc hoá chất chống ung thư phối hợp.

Các trường hợp bệnh nhân tác dụng kém với thuốc kháng cholinergic và không đỡ sau cắt bỏ tuyến ức thì sẽ được chỉ định dùng thuốc làm giảm phản ứng miễn dịch; thay huyết tương; truyền globulin… Các biện pháp này được chỉ định đối với trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn, không đáp ứng với biện pháp dùng thuốc và chỉ được thực hiện ở bệnh viện chuyên khoa.

– Kinh nghiệm điều trị run tay từ người trong cuộc

Các bài viết khác

Trị Ghẻ Ngứa Bằng Thuốc Nam / 2023

Trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam được nhiều người áp dụng. Do các thảo dược dễ tìm, tốn ít chi phí, an toàn cho nhiều đối tượng khác nhau. Bên cạnh đó, người bệnh cũng tránh được một số tác dụng phụ so với việc sử dụng thuốc tân dược điều trị.

10 loại lá cây trị ghẻ ngứa hiệu quả

Ghẻ ngứa hình thành bởi ký sinh trùng có tên là sarcoptes scabiei hominis. Bệnh có thể lây từ người này sang người khác do ký sinh trùng có khả năng lây lan dễ dàng. Nhất là những trường hợp người khỏe mạnh tiếp xúc kề da hoặc sử dụng chung đồ dùng cá nhân với người bị ghẻ ngứa.

Thông thường, bệnh hay xuất hiện vào những thời điểm như mùa xuân và mùa hè. Ký sinh trùng tấn công lên da và sống cộng sinh dưới lớp sừng thượng bì. Khi giao hợp thành công, con ghẻ đực sẽ chết đi, còn những con ghẻ cái sẽ tiếp tục đào hang và sống lưu trú dưới da. Chúng sẽ đẻ trứng vào ban ngày, còn ban đêm sẽ nằm im dưới lớp da người.

Triệu chứng của bệnh ghẻ ngứa có thể quan sát bằng mắt thường thông qua những nốt mụn nước dày đặc trên da. Kèm theo đó, người nhiễm phải ký sinh trùng sẽ bị ngứa ngáy dữ dội. Bề mặt da lúc này xuất hiện nhiều đường hang do ghẻ cái đào, nổi gờ lên trên.

1. Lá trầu không trị ghẻ ngứa

Lá trầu không là loại thảo dược thiên nhiên mang lại nhiều giá trị cho sức khỏe con người. Hình dạng của lá giống như hình trái tim, với bề mặt lá nhẵn bóng. Hiện nay, trầu mỡ và trầu quế là hai loại được trồng phổ biến. Để điều trị ghẻ ngứa, ghẻ nước thì người ta thường sử dụng loại trầu quế nhiều hơn.

Trong lá trầu có chứa một lượng khá dồi dào tinh dầu với hàm lượng betel phenol chavicol cùng với cadinen cao. Công dụng chính giúp kháng khuẩn, tiêu diệt ký sinh trùng gây ghẻ ngứa, mụn nước. Ngoài ra, chúng còn giúp giảm viêm ngứa hiệu quả, thúc đẩy quá trình tái tạo tổn thương trên da. Bạn có thể sử dụng lá trầu không trị ghẻ ngứa theo 3 cách sau:

Cách 1: Sử dụng lá trầu không nấu nước tắm trị ghẻ ngứa:

Nhiều người cũng thắc mắc liệu bị ghẻ nước thì nên tắm lá gì? Với lá trầu không, bạn cũng có thể áp dụng cho cả những trường hợp này. Những nốt mụn nước chưa vỡ hoặc đã vỡ có thể được khắc phục hiệu quả tình trạng ngứa ngáy, chống nguy cơ gây mủ, nhiễm trùng.

Cách 2: Sử dụng lá trầu không và muối trị ghẻ ngứa: Cách 3: Sử dụng lá trầu không kết hợp với thảo dược khác trị ghẻ:

2. Lá muồng trâu trị ghẻ ngứa tại nhà

Khi nhắc đến trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam, bạn không nên bỏ qua lá cây muồng trâu. Loại lá này được nhiều người sử dụng trong việc khắc phục các vấn đề ngoài da. Bạn có thể tìm thấy muồng trâu ở nhiều nơi, đặc biệt là nơi có khí hậu nóng. Chúng thường mọc hoang trên những đồi, cồn đất nhô cao, hoặc ở những nơi đất trống.

Cây muồng trâu còn được gọi với cái tên là muồng lác, cây lác. Dân gian tận dụng tất cả bộ phận của cây để làm thuốc trị bệnh. Để điều trị chứng ghẻ ngứa, bạn có thể sử dụng lá và rễ cây. Bởi, chúng chứa nhiều vitamin C, ngoài ra hàm lượng chất chống oxy hóa cũng khá dồi dào.

Cách 1: Sử dụng lá cây muồng trâu trị ghẻ ngứa: Cách 2: Tận dụng rễ muồng trâu trị ghẻ ngứa:

3. Trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam với lá cây xoan

Cây xoan là một loại cây được trồng phổ biến với công dụng là lấy gỗ. Tuy nhiên, ít ai biết rằng, loại cây này cũng mang lại nhiều giá trị cho sức khỏe con người. Trong đó, lá xoan có công dụng điều trị chứng ghẻ ngứa khó chịu. Bởi, trong loại cây này có chứa chất sát khuẩn, giảm khô, bong tróc da, nhất là giảm ngứa hiệu quả. Sử dụng theo các bước sau:

4. Sử dụng rau sam chữa trị ghẻ ngứa

Ngoài những loại lá thuốc nam giúp điều trị ghẻ ngứa kể trên, rau sam cũng là một sự lựa chọn cho bạn. Loại rau này khá dễ tìm, bạn có thể bắt gặp rau mọc hoang ở ven đường hoặc trong vườn nhà. Ngoài công dụng chế biến món ăn, nó cũng được sử dụng như một loại thảo dược có tác dùng điều trị bệnh.

Theo Đông y, rau sam có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, làm mát khí huyết cho con người. Bên cạnh đó, loại thảo dược này còn giúp giảm sưng viêm, diệt khuẩn, virus,…Trong đó có cái ghẻ, nguyên nhân khiến nhiều người bị nổi mụn nước trên da.

Bạn có thể sử dụng cả lá, thân, rễ cây. Để đạt được hiệu quả tốt nhất, bạn nên sử dụng kết hợp rau sam chung với lá xoan, lá đào. Thực hiện theo cách đơn giản như sau:

5. Lá cây chẻ cỏ trị ghẻ ngứa đơn giản

Cây chẻ cỏ là một loại thảo dược còn có tên gọi khác là cây ba chạc, chè đắng. Trong chẻ cỏ có chứa nhiều hợp chất được ví là khắc tinh của ghẻ ngứa, chốc đầu, mẩn đỏ dị ứng, và nhiều trường hợp bệnh da liễu khác. Trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam với cây chẻ cỏ cũng được nhiều người áp dụng. Cách thực hiện đơn giản như sau:

6. Dùng lá đào trị ghẻ ngứa tại nhà

Lá đào chứa nhiều chất có tác dụng chống khuẩn, tiêu diệt ký sinh trùng. Vì thế nhiều người đã tận dụng loại lá này để điều trị bệnh ngoài da, nhất là ghẻ ngứa. Bên cạnh đó, lá đào còn giúp giảm ngứa, làm sạch vùng da bị ký sinh trùng tấn công.

Một thời gian sử dụng, vùng da tổn thương sẽ phục hồi đáng kể, tránh tình trạng nhiễm trùng nguy hại. Bạn có thể áp dụng phương pháp này theo hai cách đơn giản như sau:

Cách 1: Sử dụng lá đào nấu nước tắm trị ghẻ nước: Cách 2: Đắp thuốc lá đào trị ghẻ ngứa:

7. Lá đơn tướng quân chữa ghẻ ngứa đơn giản

Người ta còn thường gọi cây đơn tướng quân với tên là cây khôi tía, cây lá khôi. Bạn có thể tìm thấy cây thảo dược này ở nhiều nơi, nhất là ven sông, suối, bìa rừng. Chúng thường mọc hoang ở các tỉnh miền phía Bắc. Người trong dân gian thường sử dụng lá của loại cây này để làm dược liệu trị bệnh.

Lá đơn tướng quân có thể sử dụng ở dạng sấy, phơi khô hoặc sử dụng lá tươi. Lá có thể thu hái được quanh năm. Trong lá đơn tướng quân có nhiều hoạt chất với công dụng giải độc, chống khuẩn, ức chế dị ứng. Không những thế, nó còn giúp ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng, giảm viêm ngứa hiệu quả.

Đây được xem là lá thuốc nam trị ghẻ ngứa, viêm da, mề đay, viêm họng được nhiều người tin dùng. Trong điều trị chứng ghẻ ngứa, mụn nước khó chịu, bạn có thể sử dụng lá tướng quân nấu nước tắm. Cách thực hiện đơn giản như sau:

8. Sử dụng lá khế chữa ghẻ ngứa

Lá khế cũng là một trong những loại lá thuốc nam được sử dụng điều trị một số vấn đề về da, trong đó có ghẻ ngứa. Bạn có thể tìm thấy loại lá này dễ dàng, tiết kiệm được kha khá chi phí điều trị, vừa lại an toàn, lành tính.

Trong lá khế có chứa những hoạt chất có công dụng chống viêm hiệu quả, điển hình là flavonoid, saponosid, tanin,…Ngoài ra còn có các acid hữu cơ, muối canxi. Chúng giúp ngăn ngừa sự phát triển của ký sinh trùng, vi khuẩn gây hại cho da.

Đối tượng trẻ em cũng có thể tận dụng biện pháp này để điều trị khắc phục trường hợp ghẻ ngứa nhẹ. Sử dụng lá khế nấu nước tắm còn giúp điều trị ghẻ nước. Do đó, nếu bạn đang thắc mắc bị ghẻ nước nên tắm lá gì thì có thể tham khảo loại lá thảo dược này. Có hai cách sử dụng phổ biến như sau:

Cách 1: Tắm nước lá khế chữa bệnh ghẻ: Cách 2: Đắp lá khế trị ghẻ ngứa:

9. Lá bạch đàn chữa bệnh ghẻ ngứa

Trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam có thể nói là sự lựa chọn của nhiều người. Trong số các loại lá được sử dụng, bạn không nên bỏ qua lá bạch đàn. Lá cây này có công dụng hiệu quả trong việc kháng khuẩn. Không những thế, theo Đông y, lá bạch đàn còn giúp thống huyết, điều khí, giảm đau,…

Đối với y học hiện đại, trong lá bạch đàn có chứa chất kháng khuẩn tự nhiên có tên là flavonoid. Công dụng ức chế sự phát triển, lây lan của ký sinh trùng gây ghẻ ngứa. Lượng tinh dầu trong lá cũng khá cao, nên thường được sử dụng để điều chế tinh dầu.

Do đó, nếu bạn không tìm được lá bạch đàn tươi có thể thay thế bằng tinh dầu Khuynh Diệp. Để sử dụng được hiệu quả nhất, bạn tham khảo hai cách sau:

Cách 1: Tắm nước lá bạch đàn trị ghẻ: Cách 2: Sử dụng lá bạch đàn đắp trị ghẻ ngứa:

10. Lá sầu đâu trị ghẻ ngứa

Lá sầu đâu chữa bệnh ghẻ ngứa được nhiều người áp dụng. Sầu đâu còn được gọi với cái tên là sầu đông, cây niêm hoặc neem,…Cây mọc thân gỗ với lá có hương thơm đặc trưng và nhiều tinh dầu. Trong lá sầu đâu có chứa hàm lượng cao chất chống oxy hóa.

Công dụng chính của lá sầu đâu là giúp kháng khuẩn, chống nấm, viêm, chữa bệnh sốt rét,…Ngoài ra, theo một số nguồn có ghi chép lại, lá cây này còn giúp hỗ trợ cải thiện chứng bệnh phong, với thành phần như một loại thuốc kháng sinh tự nhiên. Chính vì thế mà bạn có thể sử dụng loại lá này để tiêu diệt ký sinh trùng, nấm ngứa tren da. Thực hiện như sau:

Trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam có hiệu quả không?

Trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam được nhiều người lựa chọn áp dụng. Do các thảo dược từ thiên nhiên nên an toàn và giúp giảm thiểu thấp nhất chi phí điều trị. Ngoài ra, cách thức thực hiện cũng khá đơn giản, người bệnh có thể áp dụng ngay tại nhà.

Tuy nhiên, vì là thảo dược thiên nhiên nên hiệu quả sẽ không nhanh chóng như những loại thuốc tân dược khác. Chính vì thế, nếu áp dụng phương pháp điều trị này đòi hỏi người bệnh phải kiên trì mới nhận thấy được hiệu quả rõ rệt.

Ngoài ra, có một số trường hợp bệnh nhân áp dụng một thời gian nhưng không thấy ghẻ ngứa thuyên giảm. Nguyên nhân gây nên tình trạng này có thể do người bệnh bị ghẻ ở tình trạng nặng, có sự tổn thương lan rộng và sâu vào bên trong da. Đồng thời, tùy thuộc vào cơ địa mà hiệu quả của mỗi người cũng không giống nhau hoàn toàn.

Thuốc nam thực chất chỉ phù hợp cho người có bệnh nhẹ, trường hợp ghẻ ngứa nặng cần can thiệp bằng các biện pháp chuyên sâu hơn. Do đó, bạn nên nhận định mức độ bệnh lý của bản thân hoặc thông qua thăm khám y tế để lựa chọn cách thức điều trị sao cho phù hợp và an toàn nhất.

Một số lưu ý khi trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam

Sử dụng thuốc nam trị ghẻ ngứa có thể an toàn, lành tính nhưng hiệu quả sẽ chậm hơn những phương pháp khác. Bạn có thể cân nhắc kết hợp điều trị tây y theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa. Tuyệt đối không tự ý sử dụng song song hai phương pháp này để tránh tác dụng phụ không mong muốn.

Bên cạnh đó, trong quá trình điều trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam, bạn nên lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

Trị ghẻ ngứa bằng thuốc nam như đã đề cập là phù hợp cho đối tượng bệnh nhẹ. Trường hợp ghẻ ngứa nặng, lây lan và có nhiều vết thương hở trên diện rộng, bạn nên điều trị theo chỉ định của bác sĩ.

Điều Trị Bệnh Xương Khớp Bằng Những Cây Thuốc Nam / 2023

Ngày nay người bị bệnh xương khớp có xu hướng thích dùng thuốc nam để hạn chế tác dụng không mong muốn. Tuy nhiên, bạn cần biết những vị thuốc nam an toàn và hữu hiệu cho người bệnh xương khớp. Dây đau xương

Dây đau xương là loại cây không thể quên nhắc đến khi nói về thuốc trị bệnh xương khớp. Dây đau xương còn có tên khác là Khoan cân đằng, Tục cốt đằng, là một loại cây dây leo thường được dùng thân và lá cây để chữa bệnh. Thân cây khi đã già thì có giá trị chữa bệnh tốt hơn.

Đau xương có vị đắng tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thấp … Dùng để trị các bệnh đau nhức xương khớp, phong thấp, tê thấp, tê bại. Liều dùng: 8-12 gram/ ngày.

Hay còn gọi là Kê huyết đằng, Hồng Đằng, Dây máu. Huyết đằng vị đắng chát, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết…

Trong dân gian người ta thường thu hái thân cây về cắt khúc phơi khô để làm thuốc chữa phong thấp, đau nhức, sưng đau do ngã, huyết hư váng đầu.

Lá lốt là vị thuốc nam có mặt trong hầu hết các bài thuốc trị bệnh xương khớp nhờ chứa nhiều dược chất quý. Tinh dầu lá lốt kháng khuẩn, giảm đau, tiêu viêm tự nhiên tốt cho chứng đau nhức xương khớp khi trời lạnh hoặc sưng đau các khớp do thoái hóa.

Lá lốt vị cay, tính ấm. Dùng điều trị các chứng: Đau lưng, tê thấp, tê bại, sưng đầu gối, chân tay lạnh, bàn chân tê buốt.

Cách dùng: Sắc uống 20 gram tươi hoặc 10 gram khô. Dùng Lá lốt, ngải cứu mỗi thứ 20 gram rửa sạch giã nát, đảo nóng lên để chườm vào khớp bị bệnh để trị bệnh thoái hóa.

Ngải cứu là loại cây quen thuộc trong đời sống hàng ngày. Ngoài việc được sử dụng như nguyên liệu của các món ăn bổ dưỡng, ngải cứu còn có tác dụng hoạt huyết điều kinh và chữa đau nhức xương khớp. Ngải cứu thường được dùng là ngải cứu trắng có tác dụng hoạt huyết, thông mạch, kháng viêm giảm đau.

Cách dùng: Có thể sắc nước uống, nấu canh. Hoặc có thể dùng một nắm ngải cứu cho vào khăn mỏng cùng một ít muối rang hoặc quay bằng lò vi sóng đắp lên vùng lưng sẽ có giấc ngủ ngon và sâu.

Đinh lăng gai

Đinh lăng gai hay còn gọi là cây Cuồng, Đơn Châu Chấu hay Độc lực là một cây thuốc trong vườn nhà, toàn thân cây đều có thể sử dụng làm thuốc.

Đinh lăng gai có vị cay, đắng, tính ấm. Tác dụng: Thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, tán ứ, khu phong trừ thấp. Thành phần rễ đinh lăng gai có tính kháng sinh mạnh có thể dùng để giải độc, thân cây có tác dụng bổ và lá có tác dụng chữa đau nhức xương, tiêu độc.

Cỏ xước hay còn gọi là Ngưu tất Nam, dù chỉ là loại cỏ mọc hoang nhưng lại có công dụng rất tốt trong việc điều trị các bệnh xương khớp.

Trong rễ của cây này chứa các chất alkaloid và saponin có tác dụng giãn nở mạch máu, hạ huyết áp và được dùng như một loại thuốc chống viêm, giảm đau tự nhiên cho các bệnh nhân xương khớp.

Theo đông y, cỏ xước tính mát, có vị chua đắng, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu viêm. Cỏ xước chủ yếu dùng rễ cho các bệnh: phong thấp tê mỏi, viêm khớp, đau lưng, nhức xương, kinh nguyệt không đều, huyết ứ tử cung, chân tay co quắp, tiểu buốt, tiểu rắt, thoát vị đĩa đệm.

Cỏ xước có thể sắc uống đơn lẻ 10-15 gram hay kết hợp với các vị thuốc khác.

Cây xấu hổ (cây Trinh nữ)

Người miền Bắc thường gọi tên cây Trinh nữ này là cây Xấu hổ hay mắc cỡ, cây mọc tràn lan ở ven đồi hoặc ven đồng ruộng, ven đường. Bạn có thể nhận biết cây bằng cách chạm nhẹ vào sẽ thấy lá cụp lại.

Trinh nữ có vị ngọt chát, tính mát có tác dụng trấn an tinh thần, chống viêm, sưng tấy, đau nhức. Dùng để trị các bệnh suy nhược thần kinh, mất ngủ, nhức xương, chân tay tê bại, nhức xương, viêm phế quản, viêm kết mạc, sỏi niệu.

Với bệnh nhân đau nhức xương khớp: Đem rễ cây Xấu hổ thái mỏng tẩm với rượu trắng, sắc lấy nước uống chia làm 2 lần uống trong ngày. Sử dụng từ 7-10 ngày.

Hyluflex có thành phần chính: Hydrolyzed Collagen Type II, Hyaluronic acid, Glucosamine HCL, Chondroitin sulfate, MSM, Vitamin B1 (Thiamine Mononitrate), Pyridoxine HCL, Vitamin D3, Boswellia Serrata, Chinese Skullcap, Bromelain, Black Catechu, Turmeric Extract, Chiết xuất rễ gừng (Ginger Root Extract), Tiêu đen (Bioperine). Công dụng: – Hỗ trợ phục hồi và tái tạo sụn, tăng tiết dịch nhờn cho khớp, – Hỗ trợ sự hoạt động linh hoạt của các khớp xương, giảm thoái hóa khớp. – Hỗ trợ giảm đau do khô khớp, viêm sưng khớp. Đối tượng sử dụng: Dùng cho người trưởng thành (trên 18 tuổi), người vận động nặng nhọc, người bị loãng xương, thoái hóa xương khớp, chấn thương xương khớp, viêm khớp. Địa chỉ: 262A Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội Hotline: 0943.968.958/ 046.654.7733

(Tổng hợp)

Bạn đang xem bài viết Điều Trị Bệnh Nhược Cơ Bằng Thuốc Tây Và Thuốc Nam / 2023 trên website Kidzkream.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!